BÀNG QUANG THẦN KINH

ĐINH NGHĨA:
Bàng quang thần kinh là bệnh lý gây mất chức năng của bàng quang do tổn thương một phần của hệ thống thần kinh.
Bệnh khiến cho bàng quang hoạt động kém, không thể co lại và tống nước tiểu ra ngoài hoàn toàn hoặc ngược lại hoạt động quá mức, bàng quang co bóp không tự chủ thường xuyên, thậm chí không còn khả năng phối hợp với hoạt động co thắt bàng quang.
Nếu không khống chế được, bệnh nhân sẽ tiến triển đến mức suy thận nặng hơn thì không tránh khỏi chạy thận hoặc nguy hiểm đến tính mạng.
Bệnh gặp ở trẻ nam nhiều hon trẻ nữ với tỷ lệ nam/nữ = 6/1 đến 8/1.

Không có mô tả ảnh.

BỆNH NGUYÊN:
Thống kê tại Bệnh viện Nhi Trung ương cho thấy, các nguyên nhân chính gây bàng quang thần kinh ở trẻ em độ tuổi từ 3 tháng – 15 tuổi là các dị tật bẩm sinh ảnh hưởng đến tủy sống và chức năng của bàng quang, bao gồm:
– Dị tật thoát vị tủy – màng tủy (chiếm khoảng 95%);
– Tật nứt đốt sống hoặc bất sản xương cùng và các bất thường cột sống khác;
– Khối u trong tủy sống hoặc xương chậu;
– Chấn thương tâm lý;
– Tổn thương tủy sống.

TRIỆU CHỨNG:
– Bệnh nhân rỉ nước tiểu liên tục và thường không có khả năng kiểm soát việc đi tiểu.
– Tiểu bí, khó tiểu, tiểu nhỏ giọt do bàng quang hoạt động kém, không co lại và tống được hết nước tiểu ra ngoài.
– Nước tiểu ứ đọng lâu ngày dẫn đến nhiễm khuẩn tiết niệu, viêm thận – bể thận, sỏi tiết niệu, trào ngược bàng quang – niệu quản.
Hậu quả, trẻ bị nhiễm khuẩn tiết niệu liên tục, sẹo thận không phục hồi, dẫn đến suy thận, làm tăng nguy cơ tử vong, trong khi căn bệnh này không được chỉ định ghép thận.

Trong hình ảnh có thể có: văn bản

CHẨN ĐOÁN:
Việc chẩn đoán bàng quang thần kinh ở trẻ em thường dựa vào các xét nghiệm thăm dò như: Siêu âm thận, chụp X -q uang bàng quang, cấy nước tiểu tìm vi khuẩn, xạ hình thận … Sau mổ dị tật thoát vị tủy – màng tủy, tất cả bệnh nhân sẽ được làm các xét nghiệm thăm dò chẩn đoán nói trên.

ĐIỀU TRỊ:
– Nguyên tắc điều trị: Việc điều trị bệnh cần tuân thủ 3 nguyên tắc:
+ Đảm bảo chức năng thận;
+ Đảm bảo chất lượng sống cho bệnh nhân;
+ Giúp bệnh nhân có khả năng sinh hoạt độc lập khi trưởng thành.
– Phương pháp điều trị:
Hiện có rất nhiều phương pháp điều trị khác nhau, nhưng thông tiểu ngắt quãng sạch là kỹ thuật cần được thực hiện ở tất cả bệnh nhân bàng quang thần kinh. Đây là phương pháp làm rỗng bàng quang hoàn toàn. Một ống thông sạch được đặt qua niệu đạo bàng quang rồi rút ra. Lặp lại như vậy nhiều lần trong ngày (mỗi lần cách nhau 3 – 4 tiếng).
Chọn ống có kích thước phù hợp với lứa tuổi của bệnh nhi:
– Trẻ sơ sinh – 1 tuổi: Ống thông số 6;
– Trẻ 1 – 3 tuổi: Ống thông số 8;
– Trẻ 3 – 7 tuổi: Ống thông số 10;
– Trẻ từ 7 tuổi trở lên: Ống thông số 12.
Việc đặt thông tiểu nhằm mục đích đề phòng các biến chứng của bàng quan thần kinh như:
– Nhiễm khuẩn tiết niệu
– Sỏi bàng quang
– Bí tiểu
– Dãn bàng quang
– VIêm thận – bể thận
– Suy thận
– Trào ngược bàng quang – niệu quản
– Phòng hiện tượng tăng co bóp bàng quang
Ưu điểm của phương pháp này là rẻ tiền, ít gây biến chứng, giảm được nhiễm khuẩn tiết niệu, hạn chế sỏi bàng quang, kiểm soát nước tiểu tốt, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống.
Ngoài ra, việc điều trị cần kết hợp dùng thuốc kháng sinh với thông tiểu. Nếu tuân thủ nghiêm ngặt các hướng dẫn của bác sĩ thì tình trạng rối loạn đường tiết niệu có thể được cải thiện, nhiễm khuẩn tiết niệu sẽ không tiến triển nặng thêm. Trường hợp ngược lại, nếu để nhiễm khuẩn tiết niệu tái phát nhiều lần thì trẻ có nguy cơ bị suy thận, nguy hiểm tới tính mạng.

Không có mô tả ảnh.

CẦN PHÁT HIỆN BỆNH SỚM
Bàng quang thần kinh do nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó có nguyên nhân bẩm sinh và nguyên nhân mắc phải. Vì vậy, để phòng tránh bệnh cần khám sàng lọc các dị tật bẩm sinh có ảnh hưởng đến chức năng của bàng quang như tật nứt đốt sống hoặc bất sản xương cùng, các khối u trong tủy sống hoặc xương chậu.
Đối với những bệnh nhi đã bị các chấn thương tủy sống, phẫu thuật cột sống, u hệ thống thần kinh trung ương, ngộ độc kim loại nặng … khi gặp một trong các triệu chứng bệnh nói trên cần khám để chẩn đoán và điều trị bệnh sớm. Bệnh nhân nếu không được điều trị hoặc điều trị không đúng nguyên nhân sẽ tiến tới suy thận, trường hợp nặng bệnh nhân cần phải chạy thận, nếu không có thể tử vong.

Ths.Bs.Trương Tản Viên

Bài viết liên quan