BASEDOW

Basedow

I. ĐẠI CƯƠNG
– Basedow là một trong những bệnh lý cường giáp tự miễn thường gặp trên lâm sàng với các biểu hiện chính: nhiễm độc giáp kèm bướu giáp lớn lan tỏa, lồi mắt và tổn thương ở ngoại biên.
– Bệnh mang nhiều tên gọi khác nhau như Graves, Parry, Bướu giáp độc lan tỏa …
– Nhờ sự tiến bộ của miễn dịch học, ngày càng nhiều kháng thể hiện diện trong huyết tương người bệnh được phát hiện, vì thế hiện nay bệnh được xếp vào nhóm bệnh liên quan tự miễn.

II. DỊCH TỄ HỌC
– Bệnh xảy ra ở mọi độ tuổi, nhất là độ tuổi 20 – 40 tuổi, ưu thế ở phụ nữ.
– Tỷ lệ nam/nữ = 1/5 – 1/7 ở vùng không bị bướu cổ địa phương.
– Tuy nhiên, ở vùng dịch tể tỉ lệ này thấp hơn.

III. BỆNH NGUYÊN
– Theo Volpé có lẽ liên quan đến sự khiếm khuyết của tế bào lympho T ức chế, là yếu tố cơ bản trong bệnh lí tự miễn ở tuyến giáp.
– Một vài yếu tố ghi nhận có thể gây đáp ứng miễn dịch trong Basedow như:
+ Thai nghén nhất là giai đoạn chu sinh (hậu sản).
+ Dùng nhiều iod, đặc biệt dân cư sống trong vùng thiếu iod, có thể iod làm khởi phát bệnh Basedow tiềm tàng.
+ Dùng lithium làm thay đổi đáp ứng miễn dịch.
+ Nhiễm trùng và nhiễm virus.
+ Ngừng corticoid đột ngột.
+ Người có HLA B8, DR3 (dân vùng Caucase) HLA BW 46, B5 (Trung Quốc) và HLA B17 (da đen).
+ Vai trò của stress chưa được khẳng định.
+ Liên quan di truyền với 15% bệnh nhân có người thân mắc bệnh tương tự và khoảng chừng 50% người thân của bệnh nhân có tự kháng thể kháng giáp trong máu.

basedow

basedow

IV. BỆNH SINH
– Có sự khiếm khuyết của tế bào lympho T ức chế (Ts, T8), cho phép tế bào lympho T hỗ trợ (TH) kích thích tế bào lympho B tổng hợp các kháng thể chống lại tuyến giáp.
– Globulin miễn dịch kích thích tuyến giáp (TSI: Thyroid stimulating immunoglobulin hoặc TSH. R Ab (Stim): kháng thể kích thích thụ thể TSH) gây tình trạng nhiễm độc giáp.
– Ngoài ra còn tìm thấy nhiều loại kháng thể kháng thyroglobulin, kháng thể kháng enzyme Peroxydase giáp hoặc kháng thể kháng tiêu thể.
– Tiến trình viêm nhiễm cơ hốc mắt do sự nhạy cảm của các tế bào lympho T độc tế bào (cytotoxic T lymphocyte) hoặc các tế bào giết (killer cell) đối với kháng nguyên hốc mắt trong sự kết hợp với các kháng thể độc tế bào.
– Tuyến giáp và mắt có thể có liên quan bởi một kháng nguyên chung giữa tuyến giáp và nguyên bào hốc mắt. Tuy nhiên vẫn chưa rõ là làm sao gây ra dòng thác miễn dịch này.
4.1. Tại tuyến giáp
– Các tế bào lympho T trở nên nhạy cảm với các kháng nguyên trong tuyến giáp và kích thích các tế bào lympho B tổng hợp kháng thể chống lại các kháng nguyên này.
– Kháng thể trực tiếp chống lại thụ thể TSH ở màng tế bào giáp và có khả năng kích thích tế bào tuyến giáp phát triển và tăng hoạt hoạt (kháng thể kích thích thụ thể TSH).
– Điều này có thể liên quan đến di truyền nằm bên dưới, nhưng vẫn chưa giải thích được lí do là làm thế nào “giai đoạn cấp” xảy ra.
4.2. Tại mắt
– Tế bào lympho độc tế bào (Cytotoxic Lymphocyte còn gọi Killer cells) và các kháng thể độc tế bào (Cytotoxic Antibodies) nhạy cảm với các kháng nguyên chung (Commun – Antigen) trong nguyên bào sợi ở hốc mắt (Orbital fibroblast), cơ hốc mắt và tổ chức tuyến giáp.
– Các cytokin từ các tế bào lympho này đã được mẩn cảm có thể gây viêm nguyên bào sợi ở hốc mắt và viêm cơ hốc mắt.
– Kết quả làm sưng hốc mắt, lồi nhãn cầu, chứng nhìn đôi, đỏ, sung huyết và phù kết mạc, phù quanh hốc mắt (bệnh lí lồi mắt tuyến giáp).
4.3. Biểu hiện ở da và đầu chi
– Phù niêm ở mặt trước xương chày và thương tổn quanh màng xương ở đầu các ngón tay và đầu các ngón chân (bệnh khớp giáp trạng) cũng có thể liên quan cytokin của các tế bào lympho kích thích nguyên bào sợi ở các vị trí này.
– Ngoài ra các triệu chứng của nhiễm độc giáp trước đây người ta cho là hậu quả của chất catecholamine tăng cao trong máu như nhịp tim nhanh, run tay đổ mồ hôi, co kéo mí mắt, nhìn chăm chú.
– Định lượng nồng độ epinephrine lưu hành ở trong giới hạn bình thường, vì vậy có thể giải thích trong bệnh Basedow làm cho cơ thể tăng nhạy cảm với các catecholamine. Điều này một phần do sự gia tăng các thụ thể catecholamine ở tim và một số cơ quan khác.

V. BIỂU HIỆN LÂM SÀNG
Bệnh thường gặp ở phụ nữ trẻ 20 – 50 tuổi, khởi phát bệnh có thể đột ngột sau rối loạn tâm lý, tình cảm bất kỳ nào đó hoặc sau nhiễm trùng. Cũng có trường hợp bệnh diễn biến từ từ gày sút mệt mỏi dần dần khó nhận biết ngay được.
5.1. Triệu chứng cơ năng:
– Gày sút cân là dấu hiệu thường gặp, gày 3-20 kg trong vài tuần cho đến vài tháng mặc dù có thể vẫn ăn ngon. Một số bệnh nhân nữ trẻ tuổi có khi lại tăng cân do ăn rất nhiều.
– Rối loạn tính tình và khí sắc: lo lắng, dễ kích thích, dễ cáu gắt, hay khóc, khó tập trung, cảm giác mệt mỏi nhưng khó ngủ.
– Rối loạn điều hoà thân nhiệt: có những cơn nóng bừng, vã mồ hôi nhiều nhất là ở ngực và bàn tay (dấu hiệu bàn tay Basedow), sợ nóng. bệnh nhân khát và uống nhiều nước
– Tim – mạch: hay hồi hộp, đánh trống ngực, cảm giác ngẹt thở, đau vùng trước tim.
– Rối loạn tiêu hoá: đi ngoài nhiều lần phân nát do tăng nhu động ruột, gặp ở 20% bệnh nhân Basedow. bệnh nhân có thể bị buồn nôn, nôn, đau bụng
5.2. Triệu chứng thực thể
– Triệu chứng tim – mạch
+ Nhịp tim nhanh > 100 chu kỳ/phút thường xuyên ngay cả khi nghỉ, lúc gắng sức hoặc xúc cảm tim đập nhanh hơn thường gây khó thở. Nghe tim có thể thấy tiếng thổi tâm thu cơ năng. Ngoại tâm thu hoặc rung nhĩ xuất hiện ở khoảng 10% bệnh nhân Basedow, đa số là ở người trên 40 tuổi, rung nhĩ có thể là triệu chứng đầu tiên của bệnh Basedow.
+ Huyết áp tâm thu tăng, huyết áp tâm trương không tăng.
+ Các mạch máu đập mạnh. Có thể nhìn thấy các mạch máu lớn (mạch cảnh, mạch dưới đòn, mạch chủ bụng, mạch đùi) đập, có dấu hiệu mạch kích động: ĐM chủ bụng đập mạnh, có thể nhìn thấy và sờ thấy đập rất mạnh dưới tay. Có thể có tiếng thổi tâm thu tăng cung lượng.
+ Suy tim xung huyết thường xảy ra ở người có tuổi hoặc ở người có bệnh tim từ trước. Suy tim do cường giáp thường kháng digitalis.
– Biểu hiện thần kinh-cơ
+ Run đầu chi, biên độ nhỏ, tần số nhanh, run tăng lên khi xúc động hoặc cố gắng tập trung làm việc nên bệnh nhân khó làm được các công việc tinh tế như viết chữ, khâu vá…
+ Phản xạ gân xương thường tăng, nhạy với pha phục hồi nhanh.
+ Yếu cơ tứ chi, nhất là các cơ gốc chi, bệnh nhân đi lại chóng mỏi, lên thang gác khó khăn, ngồi trên ghế đứng dậy bắt buộc phải có dùng tay chống đẩy (dấu hiệu ghế đẩu). Có trường hợp yếu cơ cả ở thân mình, cơ cổ, cơ chân. Làm điện cơ đồ thấy tổn thương cơ do cường giáp. Yếu cơ nặng tác động đến cả cơ hô hấp gây khó thở. Có thể bị chuột rút.
– Bướu giáp
+ Bướu giáp là dấu hiệu thường gặp, có ở khoảng 80% các bệnh nhân Basedow, thường là bướu độ II, lan toả, mật độ mềm hoặc chắc, di động khi nuốt. Bướu giáp trong Basedow là bướu mạch nên có thể sờ thấy rung miu và/ hoặc nghe thấy tiếng thổi tâm thu hoặc thổi liên tục, tiếng thổi thường nghe rõ ở cực trên thuỳ giáp và rõ hơn ở tư thế nằm. Đôi khi bướu có thể nhỏ hoặc chìm sâu vào trung thất.
+ Mức độ to của bướu giáp có thể thay đổi sau khi được điều trị, nhất là ở những bệnh nhân mới bị bệnh.
– Bệnh mắt Basedow
+ Thường tổn thương xuất hiện ở cả 2 mắt nhưng có 10% trường hợp chỉ bị ở 1 bên. Tiến triển của tổn thương mắt có thể độc lập với tiến triển của bệnh Basedow
+ Dấu hiệu điển hình:
* Stellwag: mi mắt nhắm không kín.
* Dalrymple: co cơ mi trên gây hở khe mi.
* Von Graefe: Mất đồng tác giữa nhãn cầu và mi trên (co cơ mi trên khi mắt nhìn đưa xuống dưới)
* Moebius: giảm hội tụ nhãn cầu gây nhìn đôi do liệt cơ vận nhãn.
+ Phân loại theo mức độ NOSPECT của Hội tuyến giáp Mỹ (ATA):
* Độ 0: Không có dấu hiệu hoặc triệu chứng gì
* Độ 1: Co cơ mi trên, giảm hội tụ nhãn cầu.
* Độ 2: Tổn thương kết mạc và phù mi, phù kết mạc chảy nước mắt, cảm giác có vật lạ ở mắt, sợ ánh sáng.
* Độ 3: Lồi mắt, đo bằng thước đo độ lồi Hertel (bình thường: 16 – 18mm).
* Độ 4: Tổn thương thâm nhiễm các cơ vận nhãn, thường gặp nhất là cơ thẳng trong gây hạn chế nhìn lên, tiếp đến là cơ thẳng ngoài hận chế nhìn sang bên. Thị lực bị rối loạn hoặc nhìn đôi.
* Độ 5: Tổn thương giác mạc (đục giác mạc, loét giác mạc) vì không nhắm kín được mắt.
* Độ 6: Giảm thị lực đến mất thị lực (tổn thương dây thần kinh thị giác).
+ Kết quả sinh thiết thấy các cơ vận nhãn và tổ chức hậu nhãn cầu có thâm nhiễm lymphocyte.
– Bệnh da do Basedow
+ Hiếm gặp, chỉ gặp ở 2 – 3% các bệnh nhân Basedow.
+ Phù niêm trước xương chày: Da dày lên không thể véo da lên được, đặc biệt ở phần thấp xương chày do sự tích luỹ các chất Glycosaminoglycan, đôi khi xuất hiện ở toàn bộ cẳng chân và có thể lan tới cả bàn chân. Da sần sùi, có màu nâu vàng hoặc tím đỏ.
+ Tổn thương xương: Dày tổ chức quanh màng xương, nhất là ở xương ngón tay.
+ Dấu hiệu móng tay ngắn lại, giường móng tay dài ra.
– Các triệu chứng khác:
+ Vết bạch biến
+ Vàng da do tắc mật và do viêm gan: Hiếm gặp, dễ lẫn với vàng da do tác dụng phụ của thuốc kháng giáp trạng tổng hợp. Sinh thiết gan thấy gan nhiễm mỡ nhẹ với phản ứng viêm khoảng cửa.
+ Biểu hiện sinh dục:
* Ở nam giới giảm sinh hoạt tình dục, có thể có vú to
* Ở nữ giới: kinh nguyệt thưa, ít kinh thậm chí vô kinh, vô sinh.
+ Loãng xương, viêm quanh khớp vai…
+
Bong móng tay, gây tách móng khỏi phần chân móng nhất là ở ngón nhẫn.
VI. XÉT NGHIỆM CHẨN ĐOÁN:
6.1. Xét nghiệm Hormon: T3, T4, FT3, FT4, TSH
– Xét nghiệm TSH (phương pháp siêu nhạy) là nhạy nhất và quan trọng nhất. Xét nghiệm TSH siêu nhạy đặc biệt có giá trị ở những bệnh nhân có bệnh khác đi kèm hoặc đang dùng thuốc làm ảnh hưởng đến giá trị T4. TSH có thể thấp vừa phải (không nhỏ hơn 0,1 U/l) do mắc 1 số bệnh khác hoặc do dùng thuốc (Dopamin, Glucocorticoid) và đôi khi ở người già khoẻ mạnh.
– Các xét nghiệm FT3 hoặc FT4 (phương pháp RIA) có giá trị hơn vì nó là dạng hormon có tác dụng sinh học trực tiếp và ít bị ảnh hưởng bởi tình trạng có thai hoặc rối loạn Protein gắn (TBG: Thyroide binding globuline).
Nếu thấy FT4 tăng và TSH giảm thì cho phép chẩn đoán chắc chắn cường giáp. (Bình thường TSH = 0,3 – 5 u/l và FT4 = 12 – 25 pmol/l).
– Nếu FT4 bình thường và TSH giảm thì phải xét nghiệm thêm FT3 vì có thể chỉ FT3 tăng, gặp trong giai đoạn sớm của bệnh Basedow hoặc do adenoma độc của tuyến giáp tiết T3.
– Nếu FT4 bình thường và TSH giảm: Cường giáp dưới lâm sàng, có thể gặp trong giai đoạn sớm của bệnh Basedow.
6.2. Xét nghiệm các kháng thể kháng tuyến giáp
– Các kháng thể TgAb hoặc TPOAb có thể dương tính trong bệnh Basedow nhưng chỉ có tăng nồng độ kháng thể TSH-RAb (TRAb) mới đặc hiệu.
– TRAb có giá trị đặc biệt trong:
+ Chẩn đoán:
• Basedow không có triệu chứng
• Bệnh nhân lồi mắt 1 bên mà không có triệu chứng gì khác
+ Tiên lượng về khả năng tái phát ở các bệnh nhân được điều trị nội khoa
6.3. Xạ hình tuyến giáp: I132 (tốt nhất) hoặc I131 hoặc Technitium
– Nên làm khi nghi ngờ Basedow nhưng không có bướu giáp hoặc không có các triệu chứng về mắt.
– Trong Basedow: Tuyến giáp to và tăng bắt chất phóng xạ. Cổ điển với I131 sẽ có dấu hiệu góc thoát.
6.4. Các xét nghiệm khác
– Điện tâm đồ: Nhịp nhanh xoang
– Chụp CT hoặc MRI hố mắt: Thấy các cơ phì đại, ngay cả khi không thấy các triệu chứng về mắt trên lâm sàng.
– Giảm Cholesterol và Triglyceride máu
– Đường máu có thể tăng do giảm dung nạp Glucose hoặc đái tháo đường.
– Chuyển hóa xương và calci-phosphore:
– Calci máu tăng, có thể > 3 mmol/l.
– Chụp X – Quang thấy có loãng xương ở 8% số bệnh nhân Basedow, nhất là ở nữ giới tuổi cao.

VII. CHẨN ĐOÁN:
7.1. Chẩn đoán xác định
– Lâm sàng: Có hội chứng nhiễm độc giáp. Nếu có triệu chứng lâm sàng của nhiễm độc giáp và ít nhất 1 trong 3 triệu chứng bướu mạch, lồi mắt và phù niêm trước xương chày thì cho phép chẩn đoán xác định Basedow mà không cần làm thêm xét nghiệm gì nữa.
– Xét nghiệm: FT4 tăng và TSH giảm. Một số bệnh nhân ở giai đoạn sớm chỉ có tăng FT3
– Nồng độ kháng thể TSH – RAb tăng.
– Xạ hình tuyến giáp: Tuyến giáp tăng bắt giữ Iode phóng xạ hoặc Technitium.
7.2. Chẩn đoán phân biệt
– Cường giáp do bướu giáp độc hoặc bướu giáp đa nhân độc, do u buồng trứng …
– Nhiễm độc giáp do bệnh nhân uống Thyroxin
– Viêm tuyến giáp giai đoạn đầu, có nhiễm độc giáp
– Cường giáp do u tuyến yên tăng tiết TSH
7.3. Chẩn đoán 1 số thể bệnh đặc biệt
– Ở nam giới
+ Nam giới ít bị Basedow hơn nữ. Đa số bướu giáp thường không to, hoặc to ít.
+ Các biểu hiện tim-mạch và yếu cơ nổi trội, trong khi các dấu hiệu thần kinh-tâm thần mờ nhạt.
+ Cân nặng ít thay đổi.
+ Đôi khi gặp vú to nam giới.
+ Hay gặp các biểu hiện mắt (lồi mắt, phù mi mắt, co cơ mi trên…).
– Ở người lớn tuổi
+ Các dấu hiệu thường gặp: đánh trống ngực, khó thở khi gắng sức, run, lo lắng, sút cân.
+ Ở người già khi cường giáp nặng có thể biểu hiện tình trạng đờ đẫn thường phối hợp tình trạng suy kiệt và suy tim trái, chẩn đoán khó, tiến triển dẫn đến cơn cường giáp cấp và tử vong.
+ Các triệu chứng cơ và tim – mạch nổi trội: Loạn nhịp tim gặp ở 30-60%, suy tim…
+ Có khi các dấu hiệu thay đổi thể trạng là chủ yếu: chán ăn, gày sút rất dễ nhầm với ung thư đường tiêu hoá.
+ Hoặc các biểu dấu hiệu, triệu chứng thần kinh-tâm thần thường được cho là bệnh mạch máu, “bệnh tuổi già”, trầm cảm tuổi già.
– Ở phụ nữ có thai
+ Các biểu hiện ban đầu khó phân định vì giống với tình trạng tăng chuyển hoá hay nghén như các trường hợp mang thai bình thường khác, nhất là trong 3 tháng đầu.
+ Cần lưu ý cho người: có tiền sử gia đình mắc bệnh tuyến giáp tự miễn dịch (viêm tuyến giáp tự miễn, Basedow); có bướu giáp; dấu hiệu mắt; sợ nóng, tay ấm và ẩm; nhịp tim nhanh; sút cân; nôn nhiều lúc bắt đầu có thai.
+ Cần kiểm tra chức năng tuyến giáp cho tất cả những phụ nữ nghén nặng.
+ Chẩn đoán bệnh dựa vào dấu hiệu lâm sàng và xét nghiệm T4 và T3 tự do tăng cao, TSH giảm thấp, xét nghiệm TSH – RAb.
+ Không được dùng Iode phóng xạ để chẩn đoán.
+ Nếu không khống chế được tình trạng cường giáp, vào 3 tháng giữa của thai kỳ có thể phát hiện cường giáp của thai bằng siêu âm: bướu giáp của thai to; nhịp tim nhanh; chậm lớn; thai tăng hoạt động; tuổi xương phát triển nhanh hơn bình thường.
+ Đối với thai, nếu mẹ được điều trị tốt, nguy cơ biến chứng cho thai tăng gấp 2 lần so với mẹ bình thường, còn nếu mẹ không được điều trị gì các nguy cơ trên tăng gấp 7 lần.
+ Đối với mẹ bị Basedow khi có thai mà không điều trị thì gần như chắc chắn 100% sẽ bị các biến chứng như: sảy thai, đẻ non, cơn cường giáp cấp, trong khi nếu được điều trị tốt các nguy cơ trên gần tương đương như đối với người không mắc bệnh.
– Thể có liệt chu kỳ do cường giáp
+ Bệnh hiếm gặp, thường là các bệnh nhân Basedow là nam giới, người châu Á.
+ Cơn liệt thường xuất hiện về đêm hoặc buổi sáng, sau 1 ngày gắng sức hoặc bữa ăn nhiều đường.
+ Biểu hiện liệt mềm 2 chân nhưng cũng có thể liệt cả 2 tay nhưng hiếm khi có liệt cơ hô hấp. Trong cơn, bệnh nhân có thể có loạn nhịp tim (do Kali máu thấp).
+ Chẩn đoán dựa vào không có tiền sử gia đình bị liệt chu kỳ, có triệu chứng Basedow và xét nghiệm thấy Kali máu thấp.
– Ở trẻ em và trẻ vị thành niên
+ Rất hiếm gặp bệnh Basedow ở trẻ em dưới 10 tuổi, thường gặp ở lứa tuổi dậy thì từ 11 – 15 tuổi.
+ Triệu chứng lâm sàng chủ đạo là các biểu hiện thần kinh-tâm thần, lớn nhanh dẫn đến cốt hoá xương sớm làm giảm chiều cao khi trưởng thành.
– Iod – Basedow (Job – Basedow): Xảy ra ở bệnh nhâncó bướu giáp và được điều trị bằng Iode, đặc biệt là bướu đa nhân.
– Thể chỉ có các triệu chứng ở mắt: Thường có tăng TRAb

VIII. ĐIỀU TRỊ
8.1. Bệnh có ba phương pháp điều trị:
– Dùng thuốc kháng giáp tổng hợp với hai nhóm thông dụng là nhóm Mercapto – Imidazol (Methimazol, Carbimazol) và nhóm Thiouracil (MTU, PTU, BTU);
– Phẫu thuật cắt giảm tuyến giáp;
+ Dùng Iod phóng xạ (RAI, I131). Tất cả iod kể cả iod phóng xạ khi vào cơ thể đều tập trung vào tuyến giáp, khi cho bệnh nhân uống iod phóng xạ I131, chất phóng xạ tập trung hết vào tuyến giáp và tia gamma (γ) sẽ tiêu hủy tế bào cường giáp.
– Cần lưu ý, tất cả bệnh nhân Basedow phải được điều trị đầu tiên bằng thuốc kháng giáp tổng hợp, trung bình 2 – 3 tháng cho đến khi tương đối bình giáp mới được hoặc dùng kháng giáp tổng hợp duy trì, phẫu thuật cắt giảm tuyến giáp, hoặc dùng Iod phóng xạ RAI.
8.2. Một số tiêu chuẩn có thể ngưng thuốc kháng giáp:
– Dùng kháng giáp liều rất nhỏ sau một thời gian không thấy bệnh tái phát trở lại.
– Thể tích tuyến giáp nhỏ lại (khảo sát theo siêu âm thể tích tuyến giáp (bình thường 18 – 20 cm khối).
– Kháng thể kháng thụ thể TSH (kích thích) không tìm thấy trong huyết thanh, sau nhiều lần xét nghiệm.
– Test Werner (+): Độ tập trung I131 tuyến giáp bị ức chế khi sử dụng Liothyronine (T3).

IX. BIẾN CHỨNG:
9.1. Cơn nhiễm độc giáp cấp:
Là biến chứng đáng sợ nhất do tỉ lệ tử vong cao.
– Cơn nhiễm độc giáp cấp thực chất là tình trạng tăng nặng của tất cả các triệu chứng của nhiễm độc giáp.
– Thường xuất hiện sau phẫu thuật, sau điều trị Iode phóng xạ hoặc trong cuộc đẻ ở những bệnh nhân cường giáp không điều trị hoặc điều trị không tốt. Ngoài ra còn có thể gặp khi các bệnh nhân này bị stress nặng, bị bệnh nặng như chấn thương, nhiễm khuẩn cấp tính, nhồi máu cơ tim…
– Biểu hiện lâm sàng trong trường hợp điển hình gồm:+ Sốt cao 38 -410C, hay kết hợp với cơn bốc hoả, vã mồ hôi. Mất nước nặng
+ Tim mạch: Nhịp tim rất nhanh > 150 chu kỳ/phút, có thể là nhịp nhanh xoang, rung – cuồng nhĩ, nhịp nhanh thất …, suy tim, huyết áp tụt.
+ Tâm – thần kinh: Kích thích, lú lẫn, thao cuồng, tăng thân nhiệt, hôn mê.
+ Tiêu hoá: Buồn nôn, nôn, ỉa chảy, vàng da, đau bụng
– Nếu không được điều trị tốt, bệnh nhân nhanh chóng đi đến tình trạng suy tim, và shock và tử vong.
9.2. Biến chứng tim mạch
– Loạn nhịp tim: Ngoại tâm thu nhĩ, cuồng nhĩ … nhưng phổ biến nhất là rung nhĩ. Ít gặp các loạn nhịp thất
– Suy tim xung huyết, giai đoạn đầu là suy tim có tăng cung lượng. Thường ban đầu là suy tim trái, sau đó là suy tim toàn bộ.
9.3. Lồi mắt ác tính:
lồi mắt nhanh, có thể dẩy hẳn nhãn cầu ra khỏi hố mắt gây mù ngay hoặc loét giác mạc gây mù thứ phát.
9.4. Loãng xương
9.5. Suy kiệt nặng

X. PHÒNG BỆNH
– Basedow là bệnh lý hiện chưa rõ nguyên nhân sinh bệnh nên chưa có biện pháp hữu hiệu để phòng ngừa bệnh.
– Đối với những người đã bị Basedow, để tránh bệnh tái phát hay tiến triển nặng thêm cần thực hiện những biện pháp sau:
+ Tránh hoạt động thể lực nặng kéo dài.
+ Tránh căng thẳng thần kinh, stress.
+ Không hút thuốc, tránh hít phải khói thuốc lá.
+ Luôn đeo kính bảo vệ mắt khỏi khói bụi, nhỏ mắt bằng nước muối sinh lý hàng ngày.
+ Không sờ nắn nhiều lên vùng cổ, hạn chế ăn thực phẩm chứa nhiều iod.
+ Thai sản làm bệnh nặng thêm, do đó cần điều trị dứt điểm bệnh trước khi mang thai.
+ Tuân thủ điều trị và tái khám thường xuyên theo hẹn của bác sĩ.
– Những thói quen sinh hoạt và phong cách sống dưới đây sẽ giúp bạn hạn chế diễn tiến bệnh Graves:
+ Uống thuốc đúng theo liều lượng được chỉ định. Việc bỏ lỡ liều dùng sẽ khiến thuốc giảm hoặc mất tác dụng;
+ Tập thể dục hằng ngày nếu bác sĩ cho phép;
+ Đi khám mắt ít nhất mỗi năm một lần hoặc nhiều hơn nếu cần thiết;
+ Không hút thuốc.

Bài viết liên quan