BỆNH ĐỘNG KINH

Bệnh động kinh

I. ĐẠI CƯƠNG
– Động kinh là một trong các bệnh mạn tính thường gặp của hệ thần kinh trung ương đặc trưng bởi những cơn co giật lặp đi lặp lại mà không có yếu tố thúc đẩy.
– Bệnh xảy ra ở tất cả các lứa tuổi và chủng tộc, các quốc gia và ở cả hai giới.
– Bệnh có thể gây ra những hậu quả nặng nề về mặt xã hội, thể chất và tâm lý.
– Nguyên nhân gây động kinh là do sự phóng điện đột ngột, quá mức, đồng bộ của các neuron thần kinh ở một vùng vỏ não.

Bệnh động kinh

Bệnh động kinh

II. BỆNH NGUYÊN
2.1. Nguyên nhân động kinh theo lứa tuổi:
– Trẻ sơ sinh:
+ Ngạt lúc lọt lòng
+ Chấn thương sản khoa
+ Chảy máu nội sọ
+ Hạ đường huyết
+ Hạ calci huyết
+ Hạ magne huyết
+ Hạ natri huyết
+ Thiếu hụt pyridoxin
+ Ngộ độc nước
+ Nhiễm khuẩn hệ thần kinh trung ương
+ Các nhiễm khuẩn và các rối loạn chuyển hoá khác.
– Trẻ em:
+ Động kinh nguyên phát (không rõ nguyên nhân)
+ Bại não (cerebral palsy)
+ Nhiễm khuẩn hệ thần kinh trung ương (viêm não, viêm màng não)
+ Tổn thương cấu trúc nội sọ
+ Bệnh chuyển hoá
+ Ngộ độc (thuốc, chì)
+ Bệnh thoái hoá não
+ Bệnh hệ thống (thận, gan, bạch huyết)
+ Bệnh di truyền
+ Chấn thương sọ não
– Người lớn:
+ Động kinh nguyên phát
+ Chấn thương sọ não
+ Tổn thương cấu trúc não (khối u, chảy máu, dị dạng mạch máu)
+ Bệnh mạch máu não (chảy máu não, nhồi máu não)
+ Nhiễm khuẩn hệ thần kinh trung ương
+ Bệnh thoái hoá não
+ Bệnh hệ thống
+ Bệnh bẩm sinh
+ Nhiễm độc (rượu, thuốc tâm thần, lạm dụng thuốc)
+ Rối loạn chuyển hoá.
– Người già:
+ U não
+ Ung thư di căn vào não
+ Các rối loạn tuần hoàn não
+ Xơ cứng mạch máu não
+ Teo não.
+ Thiếu máu não cấp tính
2.2. Một số nguyên nhân hay gặp:
– Động kinh do chấn thương sọ não:
+ Cơn thường xuất hiện trong vòng một tháng đến một năm sau chấn thương.
+ Nếu cơn xảy ra trên một năm sau chấn thương thì gọi là động kinh muộn sau chấn thương sọ não.
– Động kinh do u não:
+ Đa số là cơn động kinh cục bộ
+ Tiền triệu hoặc triệu chứng khởi phát giúp chẩn đoán định khu u não.
+ Ngoài cơn còn có hội chứng tăng áp lực nội sọ.
+ Hội chứng thần kinh khu trú tuỳ theo vị trí của khối u.
– Động kinh do bệnh lý mạch máu não:
+ Hay gặp nhất là do u mạch, thông động – tĩnh mạch trong não, chảy máu não và chảy máu màng nhện.
+ Ít gặp hơn là huyết khối và tắc mạch não.
– Động kinh do di chứng viêm não – màng não:
+ Đa số gặp ở trẻ em
+ Trong tiền sử của bệnh nhân có viêm não – màng não.
+ Ngoài động kinh còn có những di chứng khác:
* Thiểu năng tâm thần
* Tổn thương các dây thần kinh sọ não
* Hội chứng bệnh lý bó tháp, ngoại tháp.
– động kinh do các nang sán lợn ở não, thường kèm theo có nang sán ở cơ, đáy mắt.

III. BỆNH SINH
– Cơn động kinh xảy do sự phóng điện kịch phát và tăng đồng bộ của các neuron ở não. Sự tăng kích thích các neuron ở não xảy ra do kết hợp hai yếu tố:
+ Ngưỡng co giật thấp (do yếu tố di truyền).
+ Những yếu tố bất thường gây động kinh (tổn thương ở não, rối loạn chuyển hoá, nhiễm độc,…).
– Hai cơ chế chính gây phóng điện kịch phát như sau:
+ Do sự tăng khử cực của màng các tế bào thần kinh: Ở các khu vực các “neuron động kinh” có sự tăng hoạt động giữa các mạng lưới đuôi gai của tế bào thần kinh và có các xung điện ngược chiều đi từ đuôi gai sang sợi trục về thân các nơron bên cạnh.
+ Do giảm hoạt động của chất GABA: Ức chế giải phóng chất GABA (Gamma – Amino – Butyric – Acid) là cơ chế bệnh sinh chủ yếu gây nên cơn động kinh. GABA có tác dụng lên tế bào (cơ quan nhận GABA – A) ở vỏ não, tăng ngưỡng chịu kích thích của các nơron vỏ não, đồng thời kiểm soát tính thấm của tế bào với anion clorua, cation sodium, cation potassium, tăng phân cực màng A sẽ dẫn đến xuất hiện cơn động kinh.

IV. LÂM SÀNG
4.1. Động kinh cục bộ phức tạp:
– Gồm các cơn có thay đổi hành vi, có kèm theo các ảo giác giác quan;
– Các cơn đau bụng, đau ngực, các cơn ảo giác thị giác, thính giác …
– Bệnh nhân thường ngưng hoạt động khi có cơn hoặc có các hành vi bất thường có tính định hình.
4.2. Động kinh cục bộ vận động:
– Khởi đầu ở một vùng cơ thể, với tình trạng co cứng và co giật, sau đó lan ra toàn thân theo một đạo trình nhất định, bệnh nhân mất ý thức khi cơn lan toàn thân.
– Sau cơn có thể có triệu chứng yếu liệt thoáng qua một vùng cơ thể, thường là vùng khởi đầu co giật (Liệt Todd).
– Tổn thương gây cơn cục bộ vận động thường ở vùng vận động.
4.3. Động kinh cục bộ cảm giác:
– Bệnh nhân có cảm giác dị cảm xuất hiện tại một vùng cơ thể, sau đó lan toàn thân như động kinh vận động, sau cơn có thể kèm theo cơn cục bộ vận động.
– Tổn thương ở vùng đính.
4.4. Động kinh cục bộ giác quan:
– Bệnh nhân có các cơn ảo giác đơn giản hay phức tạp xuất hiện và chấm dứt đột ngột.
+ Ảo thị: Các điểm chói sáng trong thị trường.
+ Ảo thính: Tiếng nói, tiếng nhạc, tiếng ồn…
+ Ảo khứu: Có mùi khó chịu.
+ Tiền đình: Các cơn chóng mặt thoáng qua.
– Các cơn giác quan có thể là tiền triệu của cơn động kinh thái dương.
4.5. Cơn co cứng – co giật:
– Còn được gọi là cơn lớn (Grand Mal), gồm cơn co cứng và co giật.
– Diễn biến qua ba giải đoạn
+ Giai đoạn co cứng:
* Co cứng cơ toàn thân, mất ý thức, ngã (chấn thương).
* Kéo dài 20 – 30 giây.
* Trong cơn bệnh nhân ngưng thở nên có tình trạng tím tái.
+ Giai đoạn co giật:
* Giật cơ toàn thân với cường độ và tần số tăng dần, sau đó giảm.
* Kéo dài khoảng 60 giây.
+ Giai đoạn hồi phục:
* Bệnh nhân hôn mê, dãn cơ toàn thân (tiểu dầm), sau đó tỉnh với trạng thái hoàng hôn sau cơn.
4.6. Cơn vắng ý thức:
– Thường gặp ở trẻ gái, lứa tuổi từ 8 – 12, cơn ngắn vài giây, đứa trẻ tự nhiên ngưng hoạt động, mắt chớp nhẹ và có thể có các vận động tự động không chính xác.
– Sau cơn bé tỉnh ngay nhưng không nhớ gì lúc xảy ra cơn.
– Biểu hiện EEG của cơn vắng ý thức là phức hợp gai sóng tần số 3 chu kỳ/giây rất đối xứng.
4.7. Cơn giật cơ:
– Cơn rất ngắn: Đứa trẻ bị giật cơ toàn thân giống như giật mình, thường bị ở hai tay làm rớt đồ vật, nếu bị ở chân có thể bị khụy xuống nhưng thường không bị ngã.
– Có thể một hay nhiều cơn liên tiếp nhau và được so sánh như một đơn vị của động kinh cơn lớn.
4.8. Cơn co giật:
– Hiếm gặp, triệu chứng giật cơ toàn thân giống như giai đoạn co giật của cơn co cứng – co giật.
– Bệnh nhân bị ngã nhưng có thể không mất ý thức sau cơn hoặc mất ý thức rất ngắn.
4.9. Cơn co cứng:
– Cơn rất ngắn dưới 10 giây.
– Trẻ gồng cứng cơ toàn thân và mất ý thức.
– Trong cơn thường bị té gây chấn thương, có thể có rối loạn cơ vòng.
– Sau cơn thường có rối loạn ý thức.
4.10. Cơn mất trương lực:
– Trẻ bị mất trương lực cơ toàn thân trong vài giây.
– Nếu đang đi trẻ thường bị ngã gây chấn thương
– Nếu đang ngồi trên ghế trẻ có thể bị tuột xuống đất.
– Cơn kéo dài vài giây và ít khi ảnh hưởng đến tri giác.
– Tuy nhiên đứa trẻ thường có các chấn thương trên đầu do ngã và số lượng cơn có thể tới cả chục cơn mỗi ngày.
4.11. Cơn vắng ý thức không điển hình:
– Gần giống với cơn vắng ý thức nhưng không có biểu hiện đặc trưng của EEG.
– Trong cơn thường có hiện tượng tăng trương lực cơ.
– Cơn thường khởi phát và thoái lui từ từ, chứ không đột ngột như cơn vắng điển hình.
– Biểu hiện EEG là các phức hợp gai sóng có tần số dưới 2.5 chu kỳ/giây, có thể không đối xứng.
4.12. Cơn co thắt trẻ thơ:
– Xảy ra ở trẻ nhỏ, với biểu hiện gập người về phía trước, duỗi hai tay, giống kiểu chào của người Hồi giáo hoặc kiểu dao nhíp.

V. CẬN LÂM SÀNG
5.1. Cận lâm sàng để chẩn đoán động kinh: EEG
– Là xét nghiệm rất cơ bản trong động kinh.
– Tuy nhiên cần đánh giá EEG dựa trên các dữ kiện lâm sàng.
– Biểu hiện động kinh là các gai, hoặc phức hợp gai – sóng xuất hiện lan toả hay cục bộ.
– Cần chú ý EEG có thể bình thường trong một số trường hợp, do đó có thể phải đo nhiều lần hay trong giấc ngủ, nhất là các trường hợp động kinh trẻ em.
5.2. Các cận lâm sàng để chẩn đoán nguyên nhân: X – quang sọ não, xét nghiệm dịch não tủy, CT – Scanner, MRI sọ não…
– Các xét nghiệm hình ảnh học (CT- Scanner, MRI, X – quang sọ não) là các xét nghiệm cần thiết đối với tất cả các trường hợp sau:
+ Cơn cục bộ.
+ Cơn khởi phát ở tuổi nhũ nhi.
+ Cơn khởi phát sau 20 tuổi.
+ Cơn toàn thể không đáp ứng với điều trị.
+ Có dấu hiệu định vị.
+ Chỉ định đặc biệt của MRI:
> Cơn cục bộ phức tạp mà CT – Scanner âm tính hay không rõ.
> Các cơn co giật với triệu chứng định vị rõ mà CT – Scanner âm tính hay không rõ.
> Đánh giá trước phẫu thuật.

VI. CHẨN ĐOÁN
6.1. Chẩn đoán động kinh:
– Đòi hỏi sự xuất hiện của ít nhất 02 cơn động kinh không có yếu tố thúc đẩy cách nhau 24 giờ.
– Một số trường hợp có thể chẩn đoán động kinh khi chỉ có một cơn động kinh không có yếu tố thúc đẩy kèm với một bản ghi điện não có phóng điện ngoài cơn.
6.2. Chẩn đoán phân biệt:
– Nhiều tình huống lâm sàng phải được phân biệt với co giật do động kinh.
– Những hiện tượng kịch phát không do động kinh có thể bị nhầm với động kinh khác nhau đáng kể theo từng nhóm tuổi.
– Ở trẻ vị thành niên và thanh niên, có thể phân thành 6 nhóm lớn:
+ Ngất
+ Rối loạn tâm lý
+ Rối loạn giấc ngủ
+ Rối loạn vận động kịch phát
+ Migraine
+ Những bệnh lý thần kinh khác
– Thường xảy ra ở những người lớn tuổi là các tình huống:
+ Cơn thiếu máu não thoáng qua
+ Chứng quên toàn thể thoáng qua
+ Té xỉu (drop attacks)

VII. PHÂN LOẠI THEO ILAE ( International League Against Epilepsy)
7.1. Động kinh cục bộ:
– Động kinh cục bộ phức tạp
– Động kinh cục bộ đơn giản
+ Vận động
+ Cảm giác
+ Thực vật
+ Tâm thần
– Cơn toàn thể hoá thứ phát
7.2. Động kinh toàn thể:
– Cơn co cứng – co giật (nguyên phát)
– Cơn vắng ý thức
– Cơn giật cơ
– Cơn co giật
– Cơn co cứng
– Cơn mất trương lực
– Cơn vắng ý thức không điển hình
– Cơn co thắt trẻ thơ

VIII. ĐIỀU TRỊ
8.1. Mục tiêu điều trị:
– Kiểm soát cơn động kinh
– Hạn chế tối đa tác dụng phụ của thuốc
– Đảm bảo chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân
8.2. Thời gian điều trị:
– Hai năm sau khi hết cơn với các động kinh không có tổn thương.
– Năm năm sau khi hết cơn với các động kinh có tổn thương.
– Tuy nhiên các khuyến cáo hiện nay cho rằng thời gian điều trị tối thiểu là ba năm.
– Một số trường hợp phải phối hợp với điều trị ngoại khoa (U, Dị dạng mạch máu não …)
8.3. Nguyên tắc điều trị động kinh:
– Phối hợp tốt: Thầy thuốc – Bệnh nhân – Gia đình.
– Chọn một thuốc tối ưu cho từng trường hợp cụ thể.
– Tăng liều từ từ và sử dụng liều thấp nhất có hiệu quả.
– Nắm vững tác dụng phụ của thuốc và thời gian ổn định nồng độ.
– Không ngưng thuốc đột ngột.
– Theo dõi chủ yếu là lâm sàng.
– Trong trường hợp điều trị thất bại, cần kiểm tra:
+ Sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân.
+ Các biến chứng về thần kinh – tâm thần.
+ Chẩn đoán ban đầu.
+ Khả năng tiến triển của bệnh.
+ Kiểm tra lại CT SCanner, MRI sọ não.
8.4. Khi nào cần điều trị:
– Nếu chỉ có một cơn: Theo dõi nếu lâm sàng và EEG bình thường.
– Nếu trong 12 tháng có từ hai cơn trở lên: Điều trị ngay.
– Hiện nay một số tác giả cho rằng có thể điều trị ngay cơn đầu tiên nếu chắc chắn là động kinh.
8.5. Bảng phân loại các loại thuốc chống động kinh: Xem hình đính kèm
8.6. Điều trị thuốc:
– Việc chọn lựa thuốc chống động kinh dựa trên hiệu quả của thuốc đối với từng cơn động kinh hay từng hội chứng động kinh cụ thể, dược động học, tác dụng phụ, khoảng cách giữa các liều và giá cả.
– Chọn thuốc theo phân loại cơn động kinh: Xem hình đính kèm
8.7. Hướng dẫn sử dụng đối với một số thuốc chống động kinh thông thường: Xem hình đính kèm

thuốc động kinh

thuốc động kinh

IX. PHÒNG BỆNH ĐỘNG KINH
Người bị bệnh động kinh cần luôn duy trì chế độ ăn uống sinh hoạt một cách khoa học để phòng ngừa bệnh động kinh tái phát theo các hướng dẫn sau:
– Hạn chế đồ cay nóng, rượu bia, không uống cà phê.
– Ăn nhiều rau và hoa quả, không ăn nhiều đạm quá.
– Sáng ngủ dậy uống một cốc nước ấm khoảng 200ml, và uống đủ 2 lít nước mỗi ngày.
– Hạn chế làm công việc căng thẳng, stress, giữ cho tinh thần luôn thỏa mái.
– Tập thể dục ngoài trời, với các tư thế nhẹ nhàng giúp cho tinh thần sảng khoái, tránh stress trong công việc. Tinh thần cũng rất quan trọng trong việc phòng và chữa bệnh động kinh.
– Buổi tối đi ngủ sớm, không thức khuya, không xem những chương trình nhạy cảm với ánh sáng trên tivi. Điều này sẽ gây ảnh hưởng không tốt tới bệnh động kinh.

Bài viết liên quan