BỆNH VIÊM DA CƠ ĐỊA

Bệnh viêm da cơ địa

I. ĐẠI CƯƠNG
– Viêm da cơ địa ở trẻ em là bệnh là một loại bệnh Eczema (chàm) mãn tính thường gặp, gây khô da, đỏ da và ngứa.
– Đây là bệnh da liễu mạn tính, hay tái phát.
– Bệnh thường xuất hiện trên mặt, nhưng cũng có thể xuất hiện ở chân, tay hoặc toàn thân.
– Da của bệnh nhân có thể là “siêu nhạy cảm” với nhiều chất kích thích, dễ khô, tróc vảy ở một số vị trí đặc trưng, có thể nổi mụn nhỏ, mụn có thể vỡ và chảy dịch.
– Ngứa có nhiều mức độ khác nhau và việc gãi là khó cưỡng lại:
+ Gãi có thể làm da bị dày – cứng lên (liken hóa), gây thâm sạm da và có thể dẫn đến biến chứng, bao gồm nhiễm trùng do vi khuẩn.
+ Nếu ngứa có thể được kiểm soát, thì ban đỏ có thể dễ dàng điều trị hơn.
– Bệnh có thể di truyền và liên quan đến yếu tố genes
– Mặc dù bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng nó ảnh hưởng thường xuyên nhất đến trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Thỉnh thoảng, nó có thể kéo dài đến tuổi trưởng thành hoặc thực sự có thể xuất hiện tại thời điểm đó.

II. NGUYÊN NHÂN
Chưa có nghiên cứu nào xác định chính xác nguyên nhân gây ra viêm da cơ địa. Tuy nhiên, một số yếu tố sau đây có thể là các nguyên nhân làm gia tăng nguy cơ và khiến bệnh trở nên nặng hơn như:
– Di truyền: Yếu tố này đã được nhắc đến ở trên. Đối với những người có ông bà, cha mẹ mắc viêm da cơ địa thì thế hệ sau cũng có nguy cơ bị bệnh.
– Dị ứng hóa chất: Những hóa chất trong sinh hoạt hoặc trong công nghiệp (chất bảo quản, chất tẩy rửa) khi tiếp xúc vào da khiến cơ thể dị ứng có thể dẫn đến bệnh viêm da cơ địa.
– Ô nhiễm môi trường: Ô nhiễm môi trường, khói bụi, nhiễm bẩn nguồn nước cũng là những nhân tố gây bệnh phổ biến.
– Các nguyên nhân bệnh viêm da cơ địa khác: Vệ sinh kém, căng thẳng, stress, sức đề kháng yếu, cơ địa nhạy cảm … là điều kiện lý tưởng cho vi khuẩn dễ dàng xâm nhập vào cơ thể.

nguyên nhân viêm da cơ địa

nguyên nhân viêm da cơ địa

nguyên nhân

nguyên nhân

III. BỆNH SINH
– Viêm da cơ địa thường xảy ra ở bệnh nhân có đột biến genes fillagrin là genes mã hóa cho các protein cấu trúc của biểu bì.
– Bệnh có tính chất gia đình rõ rệt, nếu cả hai cha mẹ bị bệnh dị ứng 79 % con cái bị viêm da cơ địa, 73% trẻ em bị viêm da cơ địa có yếu tố tiền sử gia đình.
– Bệnh gây ra bởi 3 yếu tố chính, bao gồm: Môi trường, tổn thương hàng rào bảo vệ da và rối loạn đáp ứng miễn dịch:
+ Khi hàng rào bảo vệ da bị tổn thương (giảm nồng độ lipid trên da như ceramides, cholesterol, các acid béo cần thiết; thiếu lipid gian bào; tăng men tiêu protein nội sinh trên da), dẫn đến da khô, mất nước, tế bào da bị biến dạng, hậu quả là các tác nhân bên ngoài như dị ứng nguyên, vi khuẩn dễ xâm nhập gây ra phản ứng viêm.
+ Trong viêm da cơ địa có hiện tượng mất cân bằng đáp ứng miễn dịch điều hòa bởi Th1 và Th2:
* Ở giai đoạn cấp tính có hiện tượng tăng đáp ứng miễn dịch điều hòa bởi Th2, dẫn đến sản xuất ra IgE và các cytokines chống viêm như interleukins 4, 5, 13 để chống lại sự xâm nhập của các tác nhân gây bệnh ngoại bào.
* Ở giai đoạn mạn tính có hiện tượng tăng đáp ứng miễn dịch điều hòa bởi Th1 dẫn đến sản xuất ra các cytokines tiền viêm đặc biệt là interferon gamma để tiêu diệt tác nhân gây bệnh nội bào. Trong một số trường hợp ở giai đoạn muộn có thể sản xuất ra các tự kháng thể thứ phát (xem hình đính kèm).
– Vai trò phản ứng dị ứng quá mẫn qua trung gian miễn dịch IgE trong viêm da cơ địa, chưa rõ ràng. Khoảng 20% bệnh nhân viêm da cơ địa không có tăng IgE trong máu.
– Cơ chế tăng IgE trong viêm da cơ địa do histamin tác động lên thụ thể H2 của bạch cầu, làm cho chức năng của bạch cầu suy yếu, giảm chuyển dạng lympho (TTL giảm). Tế bào lympho mang thụ thể H2 có chức năng sản xuất ra yếu tố ức chế sản xuất IgE do histamin phát động, do vậy khi thiếu yếu tố này, IgE được sản xuất tăng.
– Ngoài ra IgE tăng cao còn do trong bệnh viêm da cơ địa có tăng cao AMP – Phosphodiesterase trong tế bào B hoặc tế bào T hỗ trợ làm cho tổng hợp IgE tăng cao.
– Các yếu tố môi trường làm bệnh khởi phát và nặng lên bao gồm: Dị nguyên như bọ, bụi nhà, lông súc vật, thức ăn (trứng, sữa, lạc, đậu tương, cá, bột mỳ )…; khí hậu hanh khô (bệnh thường nặng vào mùa đông, nhẹ vào mùa hè); điều kiện vệ sinh; tình trạng nhiễm khuẩn, đặc biệt là nhiễm tụ cầu vàng (staphylococcus aureus); chủng ngừa vaccine; sử dụng xà phòng, chất tẩy rửa …

IV. LÂM SÀNG
– Viêm da cơ địa là bệnh lý biểu hiện cấp tính, bán cấp hoặc mạn tính. Một đặc điểm quan trọng của bệnh là hay tái phát.
– Triệu chứng điển hình của bệnh là khô da, ban đỏ – ngứa tạo thành vòng xoắn bệnh lý: Ngứa – gãi – ban đỏ – ngứa … làm cho bệnh nặng hơn và có nguy cơ bị bội nhiễm vi khuẩn, virus.
– Ba giai đoạn của bệnh:
+ Giai đoạn cấp tính:
* Biểu hiện là đám da đỏ ranh giới không rõ, các sẩn và đám sẩn, mụn nước tiết dịch, không có vẩy da.
* Da bị phù nề, chảy dịch, đóng vảy tiết.
* Các vết xước do gãi tạo vết chợt, khi bội nhiễm tụ cầu tạo các mụn mủ và vẩy tiết vàng.
* Bệnh thường khu trú ở trán, má, cằm, nặng hơn có thể lan ra tay, thân mình.
+ Giai đoạn bán cấp: Các triệu chứng nhẹ hơn, da không phù nề, tiết dịch.
+ Giai đoạn mạn tính:
* Da dày thâm do ngứa gãi nhiều, ranh giới rõ, liken hoá, các vết nứt đau.
* Bệnh nhân có thể có các bệnh khác kết hợp như hen, viêm mũi dị ứng hoặc có các triệu chứng khác như viêm kết mạc mắt, chứng vẽ nổi (dermographism), bệnh vẩy cá thông thường, dày sừng nang lông …
– Các triệu chứng viêm da cơ địa đặc trưng
+ Ngứa da: Tác nhân gây hại xâm nhập có thể kích hoạt phản ứng histamin – một phản ứng gây ngứa.
+ Da mẩn đỏ: Triệu chứng viêm da cơ địa khá điển hình là nổi ban đỏ hình tròn, da bong trợt xuất hiện khi bệnh mới ở giai đoạn khởi phát, làn da lẩn mẩn, có mụn nước, cảm giác ngứa và nóng.
+ Phù nề, đóng vảy: Người bệnh bị viêm da cơ địa xuất hiện vùng da bị mụn nước chảy dịch, đóng vảy dày, các mụn mủ và vảy tiết vàng xuất hiện kèm triệu chứng phù nề.
+ Triệu chứng viêm da cơ địa khác: Mệt mỏi, chán ăn, mất ngủ, căng thẳng, sốt hoặc lên cơn hen suyễn … Ngoài ra, người bệnh cũng dễ mắc thêm nhiều bệnh lý viêm nhiễm khác như viêm kết mạc mắt, viêm mũi, viêm họng…

V. CẬN LÂM SÀNG
Xét nghiệm cận lâm sàng không đặc hiệu trong bệnh viêm da cơ địa.
– Định lượng IgE toàn phần:
+ IgE tăng cao ở 80 % số bệnh nhân viêm da cơ địa và càng cao nếu viêm da cơ địa càng nặng, mức IgE ở bệnh nhân viêm da cơ địa cao hơn ở hen và viêm mũi dị ứng.
+ Tuy nhiên ở 20 % số bệnh nhân viêm da cơ địa vẫn có mức IgE bình thư-ờng. + IgE tăng cao không phải là yếu tố cơ bản trong sinh bệnh học của viêm da cơ địa.
– Số lượng tuyệt đối bạch cầu ái toan thường tăng trong viêm da cơ địa
– Test áp da: Xác định yếu tố gây dị ứng làm khới phát bệnh.
– Xét nghiệm tìm dị ứng nguyên huyết thanh (Radio – allergosorbent test – RAST): Phát hiện sự hiện diện của IgE đặc hiệu với kháng nguyên trong ống nghiệm.

VI. CHẨN ĐOÁN
6.1. Chẩn đoán xác định:
– Tiêu chuẩn của Hội Da liễu Mỹ (AAD) 2003, cập nhật 2014: Dùng trong lâm sàng.
+ Đặc điểm cần có:
* Ngứa.
* Chàm (cấp – bán cấp – mạn tính): Đặc thù về tuổi và hình thái, vị trí thương tổn.
+ Đặc điểm quan trọng:
* Khởi phát lúc nhỏ.
* Cơ địa dị ứng: Cá nhân, gia đình.
* Khô da.
+ Đặc điểm phối hợp: Phản ứng mạch máu không điển hình (da vẽ nổi trắng); dày sừng nang lông; da vẩy cá; tổn thương ở mắt và quanh mắt, miệng và quanh tai; lichen hóa; trầy xước ở da …
Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm da cơ địa của Hội Da liễu Mỹ (AAD) được xây dựng dựa trên tiêu chuẩn Hanifin và Rajka (1980), sắp xếp hợp lý hơn và áp dụng phù hợp cho mọi lứa tuổi. Tiêu chuẩn này được áp dụng nhiều trong thực hành lâm sàng.
6.2. Chẩn đoán phân biệt:
– Viêm da cơ địa ở trẻ em, cần chẩn đoán phân biệt với:
+ Viêm da dầu: Tổn thương ở da đầu, mặt và mặt duỗi chi giống như viêm da cơ địa nhưng đặc trung bởi vảy da dính màu vàng và thường không ngứa, trẻ bị viêm da dầu còn có tổn thương ở vùng tã lót là vị trí ít gặp trong viêm da cơ địa.
+ Viêm da đầu chi ruột (Viêm da thiếu kẽm).
+ Viêm da tiếp xúc.
+ Ghẻ chàm hóa.
+ Nấm da.
+ Hội chứng Wiskott – Aldrich.
+ Hyper immuno globulinemia E (Job) Syndrome.
– Viêm da cơ địa ở người lớn, cần chẩn đoán phân biệt với:
+ Viêm da tiếp xúc.
+ Viêm da ánh nắng.
+ Viêm da dầu.
+ Vảy nến.
+ Mycosis fongoides.
+ Nấm da.
+ Ghẻ chàm hóa.
+ Viêm da thiếu kẽm …
6.3. Chẩn đoán biến chứng:
Bệnh có thể gây ra các hậu quả, biến chứng sau:
– Ảnh hưởng chất lượng cuộc sống:
+ Bệnh gây ảnh hưởng rõ rệt đến chất lượng cuộc sống của người bệnh.
+ Ngứa làm bệnh nhân mất ngủ.
+ Tổn thương dày da, lichen hóa, thâm đen … làm bệnh nhân ngại ngùng khi giao tiếp và tham gia các hoạt động thể dục thể thao.
+ Trẻ em, người lớn có thể phải nghỉ học, nghỉ làm do các đợt bùng phát của bệnh.
– Trẻ em bị viêm da cơ địa có thể chậm lớn.
– Nhiễm khuẩn da do liên cầu, tụ cầu, dẫn đến dễ mắc các bệnh như nhọt, viêm nang lông, nếu nặng có thể nhiễm trùng huyết.
– Nhiễm virus ngoài da như nhiễm herpes simplex gây eczema herpesticum, hoặc nhiễm virus gây u mềm lây ở da.
– Đỏ da toàn thân do viêm da cơ địa.
– Bất thường về mắt liên quan đến viêm da cơ địa: Viêm kết mạc, đục thủy tinh thể.

VII. ĐIỀU TRỊ
7.1. Một số nhóm thuốc sau đây thường được chỉ định:
– Thuốc kháng histamin (promethazin hydroclorid, clorpheniramin maleat) có tác dụng giảm ngứa, giảm dị ứng khi bệnh trở nên nghiêm trọng.
– Tacrolimus là thuốc hỗ trợ ngoài da giúp cải thiện các triệu chứng viêm da cơ địa nhưng chỉ nên sử dụng một lượng vừa phải.
– Corticosteroid dạng bôi giúp giảm viêm sưng và các triệu chứng ngứa hiệu quả. Tuy nhiên chỉ được dùng một lượng nhỏ, phù hợp với từng tình trạng bệnh viêm da cơ địa cụ thể và theo chỉ dẫn của bác sĩ.
– Các loại thuốc dưỡng ẩm dịu nhẹ giúp duy trì độ ẩm cho da, giảm tình trạng da khô nứt nẻ.
7.2. Các bài thuốc dân gian điều trị viêm da cơ địa:
Những bài thuốc nam thường rất lành tính, đem lại hiệu quả cao, không gây tác dụng và phù hợp với tất cả mọi người, có thể tham khảo một số bài thuốc dân gian sau:
● Lá đơn đỏ: Còn gọi là lá đơn tướng quân có tác dụng giảm đau, thanh nhiệt. Trong dân gian sử dụng nhiều để điều trị viêm da cơ địa và các bệnh mề đay, mụn nhọt … Bài thuốc uống chế biến đơn giản, lấy 5 lá đơn đỏ tươi sắc với nước dùng để uống 2 lần trong ngày.
● Lá khế: Đây là vị thuốc lành tính có tác dụng giải nhiệt chữa dị ứng viêm da cơ địa rất tốt. Thực hiện đun sôi lá khế với nước rồi pha loãng ra để tắm. Phần bã có thể dùng chà xát lên các vị trí da bị viêm để làm sạch và diệt khuẩn.
● Sài đất: Cây thuốc có tính mát dùng để giảm ngứa do viêm da dị ứng rất phổ biến. Sử dụng lá sài đất để trị viêm da cơ địa bằng cách đun nước tắm hàng ngày hoặc vò nát và bôi trực tiếp lên vết ngứa sẽ đem lại hiệu quả khá bất ngờ.

điều trị

điều trị

VIII. CHĂM SÓC
– Chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ điều trị viêm da cơ địa và dự phòng tái phát. Một số loại thực phẩm có thể khiến cho bệnh càng trầm trọng hơn. Chính vì vậy, người bệnh nên tham khảo thực đơn nên và không nên sử dụng sau đây (xem hình đính kèm)
– Giữ vệ sinh thân thể sạch sẽ, tắm rửa thay quần áo hàng ngày, tránh việc bụi bẩn làm bệnh viêm da nặng hơn.
– Chú ý ăn mặc quần áo thoáng mát nếu là mùa hè, tránh việc mặc nhiều quần áo ra nhiều mồ hôi gây nhiễm trùng. Nếu là mùa đông thì không nên mặc các loại áo len lông ở bên trong tiếp xúc với da, vì các chất liệu này dễ gây dị ứng cho da.
– Nên sử dụng một số loại kem dưỡng ẩm cho da, và cung cấp đủ nước cho cơ thể để giảm tình trạng da khô.
– Tránh làm trầy xước da: Sử dụng một loại kem dưỡng ẩm, kem steroid tại chỗ, hoặc các loại thuốc khác bác sĩ kê toa, dùng thuốc kháng histamin để giảm ngứa trầm trọng, giữ móng tay cắt ngắn.
– Đeo găng tay trong khi ngủ vào ban đêm, nếu gãi là một vấn đề.
– Giữ ẩm da bằng kem bôi. Sử dụng thuốc mỡ, các loại kem, hoặc thuốc nước 2 – 3 lần trong ngày.
– Tránh sử dụng các loại thực phẩm gây phản ứng dị ứng, tránh các chất kích thích như len và lanolin, tránh sử dụng xà phòng hoặc chất tẩy rửa mạnh, cũng như hóa chất và dung môi.
– Tránh thay đổi nhiệt độ cơ thể một cách đọt ngột, gây đổ mồ hôi, tránh sử dụng các loại mỹ phẩm, sữa tắm … khi đang bị bệnh.

Bài viết liên quan