CÁC BƯỚC SƠ CỨU BỎNG Ở TRẺ EM PHẦN IV – BỎNG THỰC QUẢN

I. ĐẠI CƯƠNG
– Bỏng thực quản là tổn thương thực quản do acid, bazer hay hóa chất ăn mòn do uống nhầm, thường gặp là chất kiềm như nước tro tàu (trong công nghệ làm mì sợi hay bánh tro tàu), chất ăn da trong công nghệ làm xà bông, chất acid như acid sulfuric dùng làm bình ắc quy, giấm hóa học đậm đặc (acid acetic), hoặc nước Javel. Một số trường hợp có thể bỏng thực quản do uống để tự tử.
– Ngoài tác dụng gây bỏng đối với thực quản của hóa chất, người bệnh còn phải đối mặt với nguy cơ ngộ độc do hóa chất và nguy cơ suy dinh dưỡng, suy hô hấp do sự phù nề và chèn ép của thực quản bị tổn thương.
– Bỏng thực quản là một cấp cứu tối khẩn trương, cần phải sử dụng nhiều biện pháp hỗ trợ dinh dưỡng và hô hấp, điều trị tốn kém, thời gian theo dõi sau điều trị kéo dài và để lại nhiều di chứng.

II. BỆNH NGUYÊN:
– Do uống nhầm: Hay gặp ở nam giới và trẻ em, nguyên nhân là do người nhà để các loại acid, bazer hay hóa chất ăn mòn trong các chai lọ mà trước đó để thực phẩm (chai nước ngọt, chai rượu …) nên nạn nhân không biết và uống nhần.
– Ở trẻ em, một số rất ít trường hợp do sự bất cẩn của cha mẹ để trẻ uống sữa quá nóng hay dùng canh quá nóng nên khi trẻ sử dụng bị bỏng thực quản.
– Do tự tử: Ở một vài trường hợp bỏng thực quản có thể xảy ra do tự sát, lúc này lượng hóa chất bệnh nhân uống vào thường nhiều, có sự chuẩn bị trước nên diễn biến thường nặng nề hơn.

Bỏng thực quản

Bỏng thực quản

III. HỎI BỆNH
Trong tai nạn bỏng thực quản, việc hỏi bênh là vô cùng quan trọng để bác sỹ biết và xử lý tùy theo loại hóa chất gây bỏng, thời gian bị bỏng, vô ý hay cố ý. Các câu hỏi cần nêu ra bao gồm:
– Bệnh nhân có uống hóa chất trước đó hay không (thời gian, lượng hóa chất, loại hóa chất, sơ cứu ban đầu).
– Hóa chất đó là loại gì (nếu là loại có nhãn mác thì hỏi rõ nhãn mác của hóa chất).

Bỏng thực quản

Bỏng thực quản

IV. LẤM SÀNG
Biểu hiện của trẻ khi bị bỏng thực quản sẽ diễn tiến qua 3 giai đoạn:
– Đầu tiên là giai đoạn cấp tính: Ngay sau khi uống nhầm chất gây bỏng, trẻ sẽ thấy nóng rát, bỏng dộp môi, lưỡi, họng. Sau đó, trẻ sẽ không ăn uống được vì đau rát và có thể kèm theo sốt. Bề mặt môi, miệng, lưỡi có những mảng trắng, gọi là giả mạc.
– Tình trạng trên kéo dài khoảng 05 – 06 ngày thì chuyển sang giai đoạn 2: Lúc này, do giả mạc bong tróc ra nên trẻ sẽ cảm thấy dễ chịu hơn, bớt đau rát, ăn uống khá hơn và bớt sốt. Đây là giai đoạn mà cơ thực quản bắt đầu hình thành lớp sẹo xơ, dần dần gây hẹp lòng thực quản. Tuy nhiên, vì thấy trẻ khỏe hơn nên gia đình tưởng lầm là trẻ đã khỏi bệnh. Vì vậy, người ta gọi đây là giai đoạn hết bệnh giả.
– Khoảng 07 – 08 ngày sau, trẻ sẽ cảm thấy nuốt nghẹn, nuốt khó cho thấy bệnh đã chuyển sang giai đoạn 3: Sẹo hẹp thực quản. Ban đầu là nuốt nghẹn khi ăn đồ cứng như cơm, dần dần trẻ ăn đồ mềm như cháo cũng thấy nghẹn và cuối cùng trẻ nghẹn ngay cả khi uống nước. Đó là do sẹo hẹp tăng dần làm lòng thực quản ngày càng chít hẹp. Trẻ sẽ luôn cảm thấy đói khát, mệt mỏi, và sụt cân nhanh chóng do không ăn uống được. Lúc này, bệnh nhân cảm thấy đói cồn cào và khát khô cả người nhưng không làm sao ăn uống được. Tình trạng sức khỏe bắt đầu giảm sút nhanh chóng, toàn thân rũ rượi, giảm cân nhanh (mỗi ngày có thể giảm 01 – 02 kg). Sau 05 – 07 ngày, cơ thể rơi vào trạng thái suy kiệt, gầy tóp, da nhăn nheo, mặt mũi hốc hác, đi lại không vững, cuối cùng tử vong do suy kiệt.

V. TIÊN LƯỢNG
Tiên lượng của bỏng thực quản thường là xấu, bệnh nhân có thể chết trong giai đoạn cấp tính do sốc hoặc do thủng thực quản, thủng dạ dày. Ngoài ra bệnh nhân còn có thể chết do viêm phổi, phế quản, viêm gan thận thứ phát. Về sau trong giai đoạn mãn tính, sẹo hẹp gây trở ngại cho việc ăn uống, bệnh nhân suy mòn, tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh lao phát triển. Phương pháp cho ăn qua lỗ mở dạ dày có thể tránh cho bệnh nhân khỏi bị suy mòn nhưng sẽ biến họ thành phế nhân.

VI. DI CHỨNG
Bỏng thực quản, dù có được điều trị vẫn thường để lại những di chứng tại thực quản như mất nhu động, mất xuất tiết. Bệnh nhân phải được theo dõi trong một thời gian dài vì sẹo hẹp có thể tiến triển một cách âm ỉ. Thực quản sẹo dễ bị viêm do ứ động hoặc bị tắc do thức ăn. Hơn nữa, sẹo xơ của thực quản có khả năng ung thư hóa.

VII. SƠ CỨU BỎNG THỰC QUẢN
– Ngoại trừ trường hợp bỏng thực quản do tự sát, đa số nạn nhân chỉ uống một ngụm nhỏ hóa chất, nhất là các loại có tính ăn mòn cao như acid, bazer.
– Không giống như bỏng ở các vị trí khác đòi hỏi phải loại bỏ tác nhân gây bỏng càng nhanh càng tốt, trường hợp bỏng thực quản, nhất thiết không được gây nôn cho bệnh nhân để tránh tổn thương thực quản tái phát.
– Tại nhà, tuyệt đối không được sử dụng các loại hóa chất đối kháng như Natri bicarbonate, nước vôi nhì, nước chanh, soda … cho nạn nhân uống để trung hòa hóa chất trong thực quản – dạ dày. Các phản ứng hóa học tạo ra có thể sinh nhiệt và dẫn đến bỏng nặng hơn.
– Với acid và các chất có tính acid, công thức chung là mỗi ngụm acid mà nạn nhân uống phải cho 02 lòng trắng trứng gà uống ngay. Lòng trắng trứng nhiều protein và diện tích bề mặt hấp phụ cao nên sẽ ưu tiên tạo phản ứng đông vón protein với acid và làm giảm nồng độ acid trong dạ dày.
– Trong mọi trường hợp bỏng thực quản, nhất thiết phải gói cấp cứu và điều trị tại bệnh viện (nên là bệnh viện tuyến tỉnh trở lên và có chuyên khoa bỏng). Trong thời gian chờ cấp cứu có thể cho nạn nhân uống nhiều nước để làm loãng lượng hóa chất uống vào.

Bỏng thực quản

Bỏng thực quản

VIII. ĐIỀU TRỊ
8.1. Nghiệm pháp 5 ống:
Tại trung tâm y tế, trước một bệnh nhân bỏng thực quản, tùy theo khả năng nên đặt cho bệnh nhân các loại ống sau đây:
+ Ống nội khí quản: Bỏng thực quản gây phù nề, chèn ép vào khí quản bên cạnh nên có thể dẫn đến suy hô hấp.
+ Ống sonde cho ăn: Sự phù nề, chít hẹp thực quản làm bệnh nhân nuốt ngày càng khó, việc dùng sonde dạ dày để đảm bảo dinh dưỡng cho bệnh nhân.
+ Ông thông tiếu: Khi bị bỏng nặng, hemoglobin của hồng cầu bị giáng hóa thành hemosiderin là một hợp chất màu đen, hợp chất này ngoài lắng động ở phổi còn hòa tan vào nước tiếu gây ra hiện tượng nước tiểu có màu đen. Nếu không được đào thải kịp thời, hợp chất này sẽ lắng đọng cả ở thận gây suy thận cấp.
+ Đường truyền tĩnh mạch ngoại vi: Dùng để tiêm các loại thuốc, kháng sinh và giảm đau …
+ Catheter tĩnh mạch trung tâm: Dùng để đo áp lực tĩnh mạch trung tâm (CVP), dùng các thuốc vận mạch khi bệnh nhân bị shock.
8.2. Bơm rửa dạ dày:
Sau khi đã đặt sonde dạ dày, bác sỹ có thể chỉ định cho bệnh nhân rửa dạ dày bằng dung dịch nước muối sinh lý ấm. Dịch rửa sẽ định kỳ được đưa đi làm hóa nghiệm để định lượng tồn dư hóa chất trong đó. Tuy nhiên kỹ thuật này chỉ nên được thực hiện ở các bệnh viện lớn, có khả năng hồi sức tích cực tốt.
8.3. Các biện pháp khác:
– Nội soi thực quản – dạ dày đánh giá và tiên lượng bệnh bỏng.
– Nong thực quản bằng ống nhựa để tránh chit hẹp.
– Cắt đoạn thực quản nếu đã chít hẹp lòng thực quản.
– Mở thông dạ dày nuôi dưỡng (ống thông đi qua da vào dạ dày) để đảm bảo dinh dưỡng khi đoạn thực quản bị chít hẹp quá dài, không tái tạo lại được.
– Hồi sức chống đau, chống choáng, chống độc, chống mất nước, chống suy kiệt …
Hiện nay, bỏng thực quản vẫn là một bệnh lý bỏng nặng, điều trị còn nhiều khó khăn, tốn kém cả về kinh tế và thời gian, di chứng để lại lâu dài và tỷ lệ tử vong còn rất cao khi đến điều trị muộn.

IX. PHÒNG CHỐNG
– Không để hóa chất tại những nơi trẻ dễ tiếp cận.
– Không dùng chai lọ đựng thực phẩm để chứa hóa chất.
– Phổ biến rộng rãi kiến thức sơ cứu bỏng thực quản cho người dân để xử trí kịp thời khi phát hiện nạn nhân bỏng thực quản.

Ths.Bs.Trương Tản Viên

Bài viết liên quan