CÁC BƯỚC SƠ CỨU BỎNG Ở TRẺ EM PHẦN VIII (PHẦN CUỐI) – BỎNG BASE

Bỏng Base

I. ĐẠI CƯƠNG
– Bỏng Base là tổn thương khi cơ thể tiếp xúc với chất kiềm hay các chất có bản chất kiềm ở nồng độ đủ để gây tổn thương.
– Với khả năng gây tan rã protein bỏng base tuy hiếm gặp hơn bỏng acid nhưng thường để lại tổn thương sâu, điều trị khó khăn và để lại nhiều di chứng.
– Trong đa số trường hợp, bỏng base thường gắn liền với bỏng thực quản do uống nhầm và có thể đưa đến loét, thủng thực quản, một vài trường hợp có thể bỏng ở các cơ quan khác như da – niêm mạc hoặc mắt do bị base bắn vào cơ thể. Các trường hợp đặc biệt này thường xảy ra đối với nhân viên phòng thí nghiệm là những người thường xuyên phải tiếp xúc với hóa chất.
– Ở những nơi có công trường xây dựng, trước đây dùng vôi để xây nên hay bắt gặp trường hợp trẻ bị bỏng do vôi tôi nóng. Hiện nay bỏng do vôi tôi nóng ít xảy ra hơn, tuy nhiên các trường hợp bỏng mắt do trẻ nghịch ném vôi vào nhau vẫn lác đác xảy ra.

II. BỆNH NGUYÊN
– Phần lớn bỏng base là do lỗi vô ý như uống nhầm, ăn nhầm, sự cố tràn đổ trong phòng thí nghiệm.
– Các base gây bỏng thường là các base mạnh như Sodium hydroxit và Postasium hydroxit …
– Trẻ em thường bị bỏng base do chơi đùa ở những nơi có hố vôi rồi vô tình dẫm vào/ngã vào.III.

BỆNH SINH
– Cơ chế gây bỏng của base ngược với cơ chế gây bỏng của acid. Khi base tiếp xúc với cơ thể nó làm tan rã protein của cơ thể, phản ứng này làm base ngày càng thấm sâu hơn vào tổ chức gây bỏng ngày càng sâu:
+ Làm tan rã protein các mô và kết hợp với các protein đã bị lỏng ra thành proteinat kiềm. Các Protein mô tế bào bị tan rã được hấp thu vào máu gây hội chứng nhiễm độc bỏng cấp
+ Tạo ra một quá trình xà phòng hoá với các chất béo của mọi tế bào cơ thể.
– Vôi sống khi gặp nước tạo thành vôi tôi quá trình phản ứng tạo nhiệt độ lên tới 150 độ C và vôi tôi là một bazơ mạnh (pH: 13,1). Do đó bỏng vôi tôi là sự phối hợp của cả bỏng nhiệt ướt và bỏng base.
– Amoni hydroxit: Khi hít thở nhiều khí amoniac sẽ gặp phải hội chứng phù nề thanh khí quản và dẫn tới phù phổi cấp.

IV. LÂM SÀNG
4.1. Hình thái tổn thương hay gặp:
– Nốt phồng trên nền da xung huyết, phù nề.
– Hoại tử ướt màu xám.
– Bỏng nông và bỏng sâu xen kẽ.
– Bỏng ở da: Bỏng rộng và sâu hơn so với acid, bỏng nhẹ thì gây vết loét hay chảy nước.
– Bỏng bộ máy tiêu hóa: Đau rất dữ dội ở miệng, lưỡi, hầu, thực quản, bụng. Nếu nặng thì chết vì sưng hầu, thực quản hoặc thủng dạ dày. Nếu không chết, thường xảy ra biến chứng co thắt thực quản
4.2. Triệu chứng toàn thân:
– Đau nhức kéo dài, biến chứng nhiễm khuẩn, viêm mủ thường gặp nhiễm khuẩn mủ xanh.
– Trạng thái nhiễm trùng – nhiễm độc nặng
– Diễn biến sau bỏng chậm: Chậm rụng hoại tử, chậm tái tạo mô hạt, chậm liền sẹo, chậm biểu mô hóa.

V. SƠ CỨU BỎNG BASE
– Tự bảo vệ người sơ cứu bằng các đồ bảo hộ có sẵn như găng tay, tạp dề … không để lây dính base từ người bị bỏng sang. Đồng thời tránh để vùng cơ thể hở tiếp xúc với hóa chất.
– Loại bỏ ngay lượng base còn sót lại trên bề mặt tổn thương bằng nước bất kỳ để hòa loãng nồng độ base. Nhắc lại, dùng mọi loại nước có sẵn, không nhất thiết phải là nước sạch (lý do: Xem phần I – Bỏng nhiệt ướt).
– Các bước xử lý tiếp theo cũng tương tự như xử lý bỏng acid. Xem phần III – Bỏng acid để biết thêm chi tiết.
– Nếu bỏng mắt do base xử lý như sơ cứu bỏng mắt (Phần VI – Bỏng mắt).
– Nếu bỏng thực quản do base xử lý như sơ cứu bỏng thực quản (Phần IV – Bỏng thực quản).
– Có thể sử dụng các chất trung hòa dạng nhẹ như giấm ăn, dụng dịch acid borat 3% và tốt nhất là các dung dịch đệm khi bỏng ngoài da. Với bỏng mắt và bỏng thực quản chỉ được sử dụng các dung dịch này tại tuyến điều trị chuyên khoa.
– Chuyển nạn nhân để bệnh viện tốt nhất là bệnh viện tuyến tỉnh trở lên và có chuyên khoa bỏng càng nhanh càng tốt, tuyệt đối không được điều trị bỏng base tại nhà.

VI. CÁC BIẾN CHỨNG CỦA BỎNG BASE
– Nếu bỏng tại mắt có thể gây giảm và/hoặc mất thị lực.
– Nếu ăn nhầm, uống nhầm có thể gây thủng thực quản, thủng dạ dày, sẹo hẹp thực quản, viêm phúc mạc, viêm trung thất.
– Toàn thân: Có hội chứng nhiễm trùng – nhiễm độc nặng, nạn nhân có thể suy mòn, tử vong nếu sơ cứu và/hoặc điều trị không hợp lý.

VII. PHÒNG BỆNH
– Không để hóa chất trong các loại chai lọ trước đây chứa thực phẩm khiến người khác uống nhầm.
– Thực hiện đúng nguyên tắc bảo hộ và an toàn lao động phòng xét nghiệm – thí nghiệm.
– Quy định chặt chẽ quy trình xử lý bỏng base tại phòng xét nghiệm – thí nghiệm và đặt ở chỗ dễ thấy, dễ đọc.
– Phổ biến sâu rộng kiến thức về sơ cứu bỏng base cho người dân.

Ths.Bs.Trương Tản Viên

Bài viết liên quan