HỘI CHỨNG TIỀN ĐÌNH

Hội chứng tiền đình

I. ĐẠI CƯƠNG
– Hội chứng tiền đình biểu hiện chủ yếu là chóng mặt, mất thăng bằng và đi kèm với rung giật nhãn cầu.
– Cơ quan tiền đình gồm tiền đình ngoại vi và tiền đình trung ương.
– Tiền đình ngoại vi là cơ quan nhận cảm tiền đình nằm ở tai trong và tế bào thần kinh nhận cảm tiền đình có thân tế bào nằm ở hạch tiền đình.
– Tiền đình trung ương bao gồm nhân tiền đình, các đường dẫn truyền từ nhân tiền đình lên thân não tới các nhân dây thần kinh sọ và đi xuống tủy sống điều khiển cử động mắt.

II. PHÂN LOẠI HỘI CHỨNG TIỀN ĐÌNH
2.1. Hội chứng tiền đình ngoại biên
Tổn thương xảy ra ở bộ phận nhận cảm, dây thần kinh cho đến nhân tiền đình.
– Triệu chứng chủ quan: Chóng mặt dữ dội, xảy ra từng cơn.
– Triệu chứng khách quan mang tính chất toàn diện và hòa hợp:
+ Toàn diện: Tất cả các rối loạn tiền đình đều hiện diện như rung giật nhãn cầu (ngang – xoay tròn), lệch các ngón tay, rối loạn tĩnh trạng, rối loạn dáng đi.
+ Hòa hợp: Các triệu chứng đều cùng về một phía thường là bên bệnh. Thường kèm theo các rối loạn thính giác như ù tai, giảm thính lực.
2.2. Hội chứng tiền đình trung ương
Tổn thương nhân tiền đình hoặc các đường liên hệ nhân tiền đình với hệ thần kinh trung ương.
– Triệu chứng không điển hình như trong tổn thương tiền đình ngoại biên, có sự khác biệt rõ rệt so với hội chứng tiền đình ngoại biên.
+ Không có ù tai, điếc tai hay tổn thương dây VIII đi kèm:
* Do tổn thương nằm xa đường ốc tai và dây VIII.
* Chóng mặt chỉ là triệu chứng thứ yếu.
* Mất thăng bằng mới là triệu chứng quan trọng nhất.
+ Các dấu hiệu khách quan thường hằng định:
* Rung giật nhãn cầu thường tự phát và đơn thuần: Đứng dọc trong tổn thương cuống não, ngang trong tổn thương cầu não và xoay tròn trong tổn thương hành não.
+ Triệu chứng không toàn diện: Vì không có đủ cùng lúc các dấu hiệu.
+ Mất hòa hợp rất rõ: Rung giật nhãn cầu có thể có nhiều hướng, chiều chậm có thể không cùng chiều với ngón tay chỉ lệch và với chiều ngã về một bên trong nghiệm pháp Romberg.
+ Có thể hiện diện các tổn thương thần kinh: Như dấu hiệu tiểu não, tổn thương thân não (Dấu hiệu tháp: Yếu liệt, tổn thương vận nhãn).

hội chứng tiền đình

hội chứng tiền đình

III. PHÂN BIỆT CÁC TÌNH TRẠNG CHÓNG MẶT
3.1. Chóng mặt thật sự
– Là cảm giác đồ vật xoay quanh bệnh nhân (chóng mặt khách quan) hoặc bệnh nhân xoay quanh đồ vật (chóng mặt chủ quan).
– Chóng mặt thật sự luôn luôn là một tổn thương tiền đình (trung ương hoặc ngoại vi)
3.2. Cảm giác chóng mặt
– Là cảm giác bị dịch chuyển trong không gian, nếu xảy ra chỉ khi quay đầu thì tổn thương thường cũng có nguồn gốc từ tiền đình.
3.3. Cảm giác mất thăng bằng
– Cảm giác này không kèm theo bất kỳ cảm giác khác lạ nào trong đầu.
– Có thể có nguồn gốc từ tiền đình, nhưng cũng có thể có nguồn gốc từ tiểu não, từ cảm giác sâu (cảm giác bản thể), từ hệ thị giác.
3.4. Cảm giác sợ hãi muốn té xuống
– Hầu như trong đa số trường hợp có nguồn gốc từ tâm lý.
3.5. Cảm giác choáng váng, cảm giác hoa mắt
– Thường tương ứng với những bệnh lý tim mạch hoặc bệnh tâm thần.
Như vậy, trước một bệnh nhân có cảm giác chóng mặt, bác sỹ cần:
– Nhận biết cảm giác mà bệnh nhân mô tả có nguồn gốc từ tiền đình hay không.
+ Phân biệt trong những rối loạn có nguồn gốc từ tiền đình ngọai vi (đây là mặt mạnh của bác sĩ tai mũi họng) và từ thần kinh.

IV. LÂM SÀNG
4.1. Triệu chứng chủ quan
4.1.1. Chóng mặt
– Là triệu chứng chủ yếu.
+ Bệnh nhân có cảm giác bị dịch chuyển, xoay tròn.
+ Trường hợp rõ ràng, cảm giác bị dịch chuyển rất rõ, có thể xảy ra trên mặt phẳng đứng dọc hoặc mặt phẳng đứng ngang.
+ Trường hợp không rõ ràng, bệnh nhân chỉ có cảm giác dịch chuyển hoặc lắc lư thân mình, bay lên, rớt xuống hoặc cảm giác mất thăng bằng.
+ Các dấu hiệu đi kèm thường hằng định:
* Cảm giác khó chịu, thường là sợ hãi, mất thăng bằng.
* Té ngã có thể xảy ra, bệnh nhân không thể đứng được.
* Ngoài ra có thể có rối loạn dáng đi.
* Buồn nôn, ói mửa xuất hiện khi làm những cử động nhẹ nhàng.
* Thường kèm các rối loạn vận mạch như da tái xanh, vã mồ hôi, giảm nhịp tim.
– Những đặc điểm của chóng mặt:
+ Kiểu xuất hiện:
* Đột ngột và có tính chất xoay tròn.
* Có thể từ từ với những cơn chóng mặt nhỏ nối tiếp nhau.
* Hoặc chỉ mất thăng bằng nhẹ lúc đi lại và sau đó trở thành mạn tính.
+ Chóng mặt xảy ra lúc thay đổi tư thế không, có lệch về một bên nào không?
+ Các dấu hiệu đi kèm:
* Quan trọng nhất là các dấu hiệu về thính lực.
* Kế đến là các dấu hiệu về thần kinh thực vật.
* Lưu ý bệnh nhân hoàn toàn không mất ý thức.
+ Tiền sử của bệnh nhân về tai mũi họng, thần kinh, chấn thương, ngộ độc, mạch máu, dị ứng.
+ Đặc điểm diễn tiến và tần số cơn chóng mặt.
4.1.1.1. Chóng mặt sinh lý:
– Xảy ra khi:
+ Não có sự mất cân đối trong ba hệ thống giữ thăng bằng (hệ tiền đình, hệ thị giác, hệ thống cảm giác bản thể hay còn gọi là hệ cảm giác sâu).
+ Hệ tiền đình gặp những vận động đầu chưa thích nghi.
+ Tư thế bất thường của đầu và cổ.
– Chóng mặt không gian là chóng mặt thoáng qua, do vận động chủ động của đầu trong môi trường không trọng lực.
4.1.1.2. Chóng mặt bệnh lý:
– Do tổn thương hệ thị giác, hệ cảm giác bản thể hoặc hệ tiền đình.
– Chóng mặt thị giác là do thấy những hình ảnh mới hoặc không thích hợp, hay do liệt đột ngột cơ vận nhãn kèm song thị. Hệ thần kinh trung ương sẽ nhanh chóng bù trừ tình trạng chóng mặt này.
– Chóng mặt do rối loạn cảm giác sâu hiếm khi là triệu chứng đơn độc. Thường do bệnh lý thần kinh ngoại vi (có rối loạn cảm giác sâu) làm giảm những xung động cảm giác cần thiết đến hệ thống bù trừ trung ương kèm với rối loạn chức năng của hệ tiền đình hoặc hệ thị giác.
– Chóng mặt do rối loạn chức năng hệ tiền đình là nguyên nhân thường gặp nhất. Thường kèm theo buồn nôn, rung giật nhãn cầu, thất điều dáng đi. Bệnh nhân thường có khuynh hướng giữ đầu nằm yên không nhúc nhích.
4.2. Triệu chứng khách quan
4.2.1. Rung giật nhãn cầu (rung giật nhãn cầu):
– Là triệu chứng chủ yếu.
+ Rung giật nhãn cầu nhãn cầu do nguyên nhân tiền đình thường đánh theo nhịp. Đó là cử động của nhãn cầu theo nhịp gồm sự nối tiếp nhau giữa hai pha: * Pha chậm đưa nhãn cầu sang một phía (do tác động của hệ tiền đình)
* Pha nhanh đưa nhãn cầu theo chiều ngược lại, đưa mắt về vị trí nghỉ ngơi (do tác động của chất lưới cầu não).
+ Khi có triệu chứng rung giật nhãn cầu, chúng ta cần xác định hướng, chiều và mức độ của nó.
* Hướng:
> Rung giật nhãn cầu tiền đình được gọi tên theo hướng đánh nhanh vì chiều này được thấy rõ nhất khi khám lâm sàng.
> Có thể là ngang, dọc hoặc xoay tròn (cùng chiều hoặc ngược chiều kim đồng hồ), hoặc rung giật nhãn cầu hỗn hợp (ngang – xoay tròn).
> Hướng phụ thuộc vào vòng bán khuyên bị kích thích, tức là vào vị trí của đầu trong lúc khám bệnh.
> Rung giật nhãn cầu được tạo ra ban đầu là do sự di chuyển của nội dịch: Pha chậm của rung giật nhãn cầu đánh theo hướng của dòng nội dịch.
> Chóng mặt là hiện tượng bù trừ theo hướng ngược lại: Hướng pha nhanh của rung giật nhãn cầu.
* Chiều: Sang ngang đối với rung giật nhãn cầu ngang; lên trên, xuống dưới đối với rung giật nhãn cầu dọc; cùng chiều hoặc ngược chiều kim đồng hồ đối với rung giật nhãn cầu xoay tròn.
* Mức độ:
> Độ I: Xuất hiện cùng chiều với phía mà mắt liếc sang bên đó.
> Độ II: Xuất hiện cả khi mắt ở đường giữa.
> Độ III: Đánh sang chiều ngược lại với phía mà mắt liếc sang.
4.2.2. Rối loạn thăng bằng
4.2.2.1. Các rối loạn tĩnh: Chú ý đến sự di lệch của thân, trục cơ thể, sự di lệch này đi theo hướng của dòng nội dịch.
– Dấu hiệu Romberg:
+ Cho bệnh nhân đứng, hai chân khép lại, thân mình bệnh nhân sẽ nghiêng về một bên, hiếm hơn là nghiêng ra phía trước hoặc phía sau nhưng thường là cùng một phía đối với một bệnh nhân.
+ Rối loạn này tăng lên khi bệnh nhân nhắm mắt (dấu Romberg tiền đình).
+ Nếu nặng hơn, bệnh nhân có thể bị ngã, đôi khi xảy ra đột ngột, lúc này đứng và đi không thể thực hiện được.
– Nghiệm pháp đi bộ:
+ Cho bệnh nhân đi bộ hướng đến một điểm trong một phút, hai tay đưa thẳng ra trước mặt, đầu gối chân phải co lên lên cao.
+ Nếu cần thiết, cho bệnh nhân đếm cùng lúc để tránh tập trung.
+ Nếu có tổn thương tiền đình, bệnh nhân sẽ khởi đầu quay trục của mình theo một hướng đặc biệt, quay hơn 450 trong 50 bước là bệnh lý.
– Nghiệm pháp giơ ngang hai tay:
+ Bệnh nhân ở tư thế đứng thẳng, hai mắt nhắm, hai tay đưa thẳng ra trước, hai ngón trỏ nhắm vào hai ngón trỏ tương ứng của người khám.
+ Ta ghi nhận có sự di lệch chậm trên mặt phẳng ngang theo hướng bên tiền đình bị bệnh đối với bênh lý tiền đình ngoại biên.
4.2.2.2. Rối loạn động: Sự di lệch của các chi theo hướng của dòng nội dịch.
– Nghiệm pháp bước đi hình sao:
+ Yêu cầu bệnh nhân nhắm mắt, bước tới 5 bước sau đó lùi lại 5 bước lập lại nhiều lần khoảng 30 giây.
+ Nếu giảm chức năng tiền đình một bên bệnh nhân có khuynh hướng lệch về một bên (bên bệnh) khi tiến lên và lệch theo hướng ngược lại khi lùi ra sau vẽ nên hình ngôi sao.
– Nghiệm pháp past pointing:
+ Bệnh nhân giơ thẳng hai tay ra trước, ngón trỏ chạm vào ngón trỏ của người khám.
+ Sau đó yêu cầu bệnh nhân nhắm mắt, đưa tay lên và hạ xuống chạm vào tay người khám lần nữa.
+ Đối với người có rối loạn tiền đình hai ngón trỏ không chạm tay người khám mà bị di lệch sang một bên, chúng ta ghi nhận độ di lệch đó.
+ Càng làm nhiều lần, góc độ di lệch có thể càng tăng.
Trong khi khám luôn chú ý chiều của hướng đi lệch, hướng tay lệch và chiều chậm của rung giật nhãn cầu xem có sự tương hợp, sự hài hòa hay không.
– Nghiệm pháp nhiệt:
+ Là nghiệm pháp dễ thực hiện, giúp đánh giá hoạt động từng cơ quan tiền đình riêng biệt.
+ Chống chỉ định khi có thủng màng nhĩ.
+ Cho bệnh nhân nằm ngửa, đầu nâng cao ở góc 30 độ, giữ ống bán khuyên bên ở vị trí thẳng đứng, bơm vào tai bệnh nhân nước lạnh 33 độ hoặc nước nóng 44 độ trong thời gian khoảng 40 giây, thời gian tối thiểu giữa hai lần thử là 5 phút, nước ấm ít gây khó chịu hơn nước lạnh.
+ Ở bệnh nhân có tiền đình bình thường, kích thích nước lạnh xuất hiện rung giật nhãn cầu với chiều chậm hướng về tai bị kích thích và chiều nhanh theo hướng ngược lại.
+ Ở bệnh nhân tổn thương tiền đình một bên: Kích thích không có rung giật nhãn cầu, hay xuất hiện rung giật nhãn cầu chậm, có biên độ yếu và thời gian ngắn hơn so với bên lành.
– Nghiệm pháp ghế quay:
+ Cho bệnh nhân ngồi trên một ghế quay, đầu cúi ra phía trước một góc 30 độ, cho ghế quay 10 vòng trong 20 giây, sau đó ngưng lại, quan sát các phản ứng xuất hiện.
+ Nếu chiều quay của ghế là sang bên phải thì sau khi ngưng quay bệnh nhân có rung giật nhãn cầu đánh ngang sang trái, khi đứng ngã về bên trái, ngón tay lệch về bên trái.
+ Thường dùng để khảo sát chức năng tiền đình hai bên ở những bệnh nhân điếc hoàn toàn.
– Nghiệm pháp Nylen – Bárány
+ Khi bệnh nhân có chóng mặt tư thế lành tính, nghiệm pháp này có mục đích làm tăng triệu chứng.
+ Cho bệnh nhân ngồi quay đầu sang phải, nhanh chóng cho bệnh nhân nằm ngửa đầu thấp hơn mặt phẳng ngang một góc 30 độ, quan sát có rung giật nhãn cầu và chóng mặt.
+ Sau đó đưa bệnh nhân ngồi dậy đầu vẫn tiếp tục được giữ ở tư thế quay (P) quan sát xem bệnh nhân có chóng mặt và rung giật nhãn cầu không.
+ Nghiệm pháp được lặp lại với đầu và mắt quay sang trái nằm xuống và nhìn thẳng.
– Ngoài ra còn phải khám thêm về thần kinh xem bệnh nhân có tổn thương dây VIII, VII, V, tiểu não, và các tổn thương về vận động, cảm giác.

V. CÁC KIỂU CHÓNG MẶT THƯỜNG GẶP
5.1. Hội chứng tiền đình ngoại biên
5.1.1. Cơn chóng mặt dữ dội xuất hiện cấp tính
+ Chóng mặt rất rõ, thường là xoay tròn và nặng lên khi cử động đầu.
+ Chóng mặt đi kèm với buồn nôn, nôn mửa và rối loạn thăng bằng
+ Khám lâm sàng ghi nhận có rung giật nhãn cầu và ngón tay chỉ lệch.
– Hội chứng tiền đình ngoại biên đi kèm với điếc (Bệnh Meniere)
+ Là bệnh lý gồm những cơn chóng mặt lặp đi lặp lại phối hợp với ù tai và điếc dần dần tai bên bệnh.
+ Lúc đầu ù và/hoặc điếc tai có thể không xuất hiện. Nhưng khi bệnh tiến triển thì xuất hiện đều đặn và cường độ tăng dần lên trong cơn chóng mặt.
+ Cơn chóng mặt thường xảy ra đột ngột hoặc kéo dài.
+ Chóng mặt thường theo kiểu xoay tròn và ở mức độ nặng làm bệnh nhân không thể đứng hoặc đi lại được.
+ Chóng mặt thường đi kèm với buồn nôn, nôn mửa, ù tai, cảm giác đầy cả tai, và giảm thính lực (cường độ có thể tăng dần trong cơn).
+ Khám lâm sàng ghi nhận rung giật nhãn cầu có hướng ngang (có khi kèm thêm xoay tròn). Pha chậm cũng như hướng ngón tay chỉ lệch, hướng nghiêng người trong nghiệm pháp Romberg đều cùng phía với tai bệnh.
+ Bệnh nhân có khuynh hướng nằm nghiêng, tai bệnh hướng lên trên và không thích nhìn sang bên lành.
+ Các cơn thay đổi rất nhiều về mức độ nặng nhẹ và về tần số xuất hiện.
+ Trong thể nhẹ của bệnh, bệnh nhân thường có cảm giác nặng đầu, kém tập trung chứ không phải chóng mặt đúng nghĩa và có thể bị chẩn đoán nhầm là lo lắng hoặc trầm cảm.
– Bệnh thường gặp ở lứa tuổi 20 đến 50, nam nữ đều mắc bệnh như nhau.
– Tiêu chuẩn chẩn đoán:
+ Có những cơn tương tự trước đó.
+ Tuổi từ 30 – 50 tuổi.
+ Trong cơn có chóng mặt dữ dội đi kèm với giảm thính lực một bên, ù tai hoặc cảm giác đặc cả tai.
+ Khám lâm sàng ghi nhận rung giật nhãn cầu đánh về chiều tai lành, còn nghiệm pháp ngón tay chỉ lệch và nghiệm pháp Romberg thì nghiêng về tai bệnh.
+ Không có các dấu hiệu tổn thương thần kinh trung ương.
+ Thính lực đồ ghi nhận điếc tiếp nhận một bên tai, chủ yếu ở những tần số cao và có hiện tượng chọn lọc.
– Cơ chế bệnh sinh chưa rõ, có thể do tăng thể tích trong hệ thống nội dịch do giảm sự hấp thu hoặc tắc nghẽn trong ống dẫn.
– Điều trị:
+ Điều trị trong cơn cấp: Nằm tại giường là phương pháp điều trị tốt nhất vì bệnh nhân có thể tìm ra một tư thế thích hợp để chóng mặt ít xảy ra nhất.
+ Trong những cơn kéo dài có thể dùng dimenhydrinate, cyclizine, meclizine.
+ Chế độ ăn giảm muối cũng nên dùng dù rằng hiệu quả khó đánh giá.
+ Có thể điều trị bằng phẫu thuật.
– Hội chứng tiền đình ngoại biên không có điếc tai đi kèm
+ Cần phân biệt giữa hội chứng tiền đình ngoại biên và trung ương xảy ra đột ngột. Trong hội chứng tiền đình ngoại biên sẽ không có các dấu hiệu tổn thương thân não hay tiểu não đi kèm.
– Viêm thần kinh tiền đình.
+ Xảy ra kịch phát, thường chỉ có chóng mặt, không có ù tai, điếc tai đi kèm.
+ Thường gặp ở tuổi trung niên, ở cả hai giới.
+ Cơn chóng mặt xảy ra sau khi bị nhiễm trùng ở đường hô hấp trên, do đó nghĩ nhiều đến nhiễm siêu vi.
+ Chóng mặt tự thuyên giảm trong vòng vài giờ, vài ngày.
+ Việc điều trị chỉ là ủ ấm.
+ Nếu kéo dài có thể sử dụng các thuốc điều trị triệu chứng.
+ Cơn chóng mặt có thể chỉ là một đợt duy nhất hoặc có khi tái phát nhiều lần nhưng luôn có tiên lượng tốt vì không ảnh hưởng đến ốc tai.
5.1.2. Chóng mặt ngoại biên xuất hiện mạn tính
– Chóng mặt thường không rõ, xảy ra trong thời gian ngắn hoặc thường gặp là cảm giác chóng mặt, cảm giác mất thăng bằng và thường khó phân biệt với cảm giác sợ ngã, cảm giác hoa mắt.
– Chóng mặt tư thế
+ Xuất hiện ở một tư thế định sẵn trong không gian.
+ Chóng mặt tư thế lành tính:
* Cơn chóng mặt kịch phát và rung giật nhãn cầu xảy ra ở những tư thế đặc biệt của đầu.
* Mỗi cơn kéo dài chưa đầy một phút, nhưng có nhiều cơn lặp lại.
* Khám lâm sàng hoàn toàn không phát hiện bất thường về thính lực, về tổn thương trong tai, hoặc bất thường ở những nơi khác.
* Khi làm nghiệm pháp Nylen – Barany, bệnh nhân xuất hiện cơn chóng mặt kịch phát, bệnh nhân sợ hãi, nắm chặt tay người khám hoặc thành giường và ngồi dậy.
* Thường kèm theo những cử động đong đưa của mắt và rung giật nhãn cầu, chủ yếu theo kiểu ngang – xoay tròn, hướng xuống nền nhà.
* Chóng mặt và rung giật nhãn cầu kéo dài không quá 30 – 40 giây (thường không quá 15 giây).
* Khi chuyển từ tư thế nằm sang tư thế ngồi thường bệnh nhân vẫn còn chóng mặt và vẫn còn rung giật nhãn cầu.
* Có hiện tượng quen dần khi lập lại nghiệm pháp này nhiều lần.
* Lưu ý nghiệm pháp Nylen – Barany âm tính vẫn không thể loại trừ chẩn đoán. Một số bệnh nhân cần dựa vào bệnh sử và những yếu tố khác để nghĩ đến chóng mặt tư thế lành tính.
* Một biến thể khác của chóng mặt tư thế lành tính là chóng mặt xuất hiện vài giây khi đột ngột xoay đầu. Những cơn chóng mặt kịch phát như vậy có thể đến rồi đi, xảy ra nhiều năm, nhất là ở người già không liên quan đến điều trị.
– Chóng mặt không theo tư thế: Do viêm tai, do u thần kinh thính giác.
5.1.3. Chóng mặt ngoại vi xảy ra trong các tình huống đặc biệt
– Chóng mặt do thuốc:
+ Thuốc gây nên tổn thương do độc tính lên tế bào nhận cảm và tổn thương này mang tính chất không hồi phục.
+ Thường gặp nhất là nhóm kháng sinh Aminoglycoside:
* Biểu hiện lâm sàng là hội chứng tiền đình ngoại vi cấp tính.
* Sử dụng các kháng sinh này 2 – 4 tuần có thể gây tổn thương vĩnh viễn hai bên mê đạo.
* Cách điều trị duy nhất là phòng ngừa.
+ Thuốc lợi tiểu furosemide (Lasix) và acide étacrynic (Edecrine):
* Có thể gây nên rối loạn tiền đình – ốc tai (chóng mặt, ù tai, điếc tai).
* Các rối loạn này thường là hồi phục, nhưng trong một số trường hợp có thể không hồi phục.
* Tổn thương thường xảy ra khi dùng liều cao, đường tĩnh mạch, chức năng thận suy giảm.
+ Quinine và salicylate liều cao có thể gây ra chóng mặt kèm ù tai.
5.2. Hội chứng tiền đình trung ương
5.2.1. Cơn chóng mặt dữ dội cấp tính
– Xảy ra kịch phát mà không có tổn thương thính lực đi kèm, giúp phân biệt với hội chứng tiền đình ngoại biên.
– Nguyên nhân mạch máu: Nhồi máu thân não, nhồi máu tiểu não biểu hiện bằng hội chứng tiền đình cấp tính như chóng mặt, buồn nôn, ói mửa.
– Chẩn đoán dựa trên sự xuất hiện các dấu hiệu thần kinh khác (như triệu chứng tiểu não), tuy nhiên không phải lúc nào cũng có những dấu hiệu thần kinh này.
– Bệnh xơ cứng rải rác: Cũng có thể có những cơn chóng mặt cấp tính dữ dội. Tuy nhiên ít khi nghĩ đến chẩn đoán này khi bệnh nhân chỉ có đơn thuần cơn chóng mặt mà không kèm những tổn thương thần kinh khác (kiểu đa ổ) như triệu chứng tiểu não, liệt giữa nhân, triệu chứng tháp.
5.2.2. Chóng mặt trung ương xuất hiện mạn tính
– Chóng mặt tư thế có nguồn gốc trung ương:
+ Hiếm gặp hơn chóng mặt tư thế ngoại biên.
+ Khác chóng mặt tư thế ngoại biên là xảy ra ngay lập tức ở những tư thế khác nhau khi làm nghiệm pháp Nylen – Barany; không có hiện tượng quen dần khi lập lại nghiệm pháp này nhiều lần.
+ Rung giật nhãn cầu thấy nhãn cầu đánh nhiều hướng.
+ Thường do thiếu máu não động mạch đốt sống – thân nền hoặc hiếm hơn do u hố sọ sau.
– Chóng mặt không theo tư thế: Ở bệnh nhân dưới 50 tuổi, thường có thể do u não, hoặc hiếm hơn do bệnh xơ cứng rải rác.
5.2.3. Chóng mặt xuất hiện trong những tình huống đặc biệt
– Do sử dụng thuốc làm tổn thương các đường tiền đình trung ương như thuốc chống động kinh, hạ huyết áp, giảm đau, an thần.
– Chóng mặt và Migraine: Chóng mặt có thể là triệu chứng đơn độc hoặc đi kèm với những dấu hiệu tổn thương hệ động mạch đốt sống thân nền.

VI. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
– Chủ yếu với cảm giác sợ ngã, mất thăng bằng, choáng váng do nguyên nhân tâm lý.
– Để nhận dạng nguyên nhân tâm lý cần lưu ý:
+ Khi cảm giác bất thường là cảm giác sợ ngã: Bệnh nhân sợ ngã nhưng không bao giờ bị ngã. Ngược lại, bệnh nhân có tổn thương tiền đình thật sự cũng có cảm giác sợ ngã và thực tế đã bị ngã một hoặc nhiều lần.
+ Khi cảm giác bất thường đi kèm với rối loạn tri giác: Choáng váng, hoa mắt, xỉu và có thể là nguyên nhân tâm lý.
– Phân biệt chóng mặt và hoa mắt:
+ Hoa mắt không kết hợp với ảo giác vận động (trái ngược với chóng mặt).
+ Xảy ra trong điều kiện não bị rối loạn cung cấp máu, như kích thích dây thần kinh X quá mức, hạ huyết áp tư thế, rối loạn nhịp tim, thiếu máu cơ tim, hạ oxy máu, hạ đường máu và có thể lên đến cực điểm là mất ý thức, choáng.
– Khó khăn khi chẩn đoán phân biệt chóng mặt với cảm giác mất thăng bằng, đứng không vững, cảm giác đầu trống rỗng.
– Các yếu tố giúp chúng ta nghĩ đến nguyên nhân tâm lý là:
+ Xảy ra nơi công cộng, đông người, không bao giờ xảy ra khi chỉ có một mình.
+ Không có sự thay đổi gì cả khi làm các động tác xoay đầu.
+ Khi làm nghiệm pháp Romberg, xuất hiện ngay lập tức sau khi cho bệnh nhân nhắm mắt hiện tượng chao đảo lắc lư.
– Những biểu hiện này thường xảy ra trong tình trạng lo lắng, căng thẳng thần kinh hoặc có thể đi kèm với một bệnh tâm thần (loạn thần …).

VII. ĐIỀU TRỊ
– Điều trị nguyên nhân: Tùy nguyên nhân mà cách điều trị khác nhau, có thể dùng thuốc hoặc phẫu thuật.
– Điều trị triệu chứng: Đối với triệu chứng chóng mặt, có các nhóm thuốc sau:
1. Dẫn xuất của Acetyl leucine:
+ Taganin (Acetyl – AL – Leucine) 500 mg, dạng viên (4 viên/ngày) hoặc tiêm tĩnh mạch (2 ống/ngày).
2. Kháng Histamin (Antihistamine)
+ Meclizine (Antivert, Bonine): 25 – 50 mg mỗi 4 – 6 giờ
+ Dimenhydrinate: 50 mg uống, tiêm, bắp mỗi 4 – 6 giờ
+ Betaserc (betahistidin dihydrochloride): viên 8, 16, 24 mg. Uống 32 mg/ngày.
3. Kháng Cholinergic (Anticholinergic)
+ Scopolamine: 0,6 mg uống mỗi 4 – 6 giờ
4. Đồng vận giao cảm (Sympathomimetic):
+ Amphetamine, Ephedrine.

hôi chứng tiền đình

hôi chứng tiền đình

Thạc sĩ, bác sĩ Trương Tản Viên

Bài viết liên quan