SỐT Ở TRẺ EM

Sốt ở trẻ em

I. ĐẠI CƯƠNG
– Sốt là một phản ứng tự bảo vệ của cơ thể, xảy ra do rối loạn điều hòa thân nhiệt và được xác định khi thân nhiệt cơ thể vượt quá giới hạn bình thường.
– Sốt là một triệu chứng thường gặp trên lâm sàng và là lý do chính để trẻ được gia đình mang đi khám bệnh.
– Hầu hết các bệnh nhiễm trùng đều có sốt tuy vậy không nên lạm dụng kháng sinh để điều trị triệu chứng sốt.

II. SINH LÝ ĐIỀU NHIỆT CỦA CƠ THỂ
– Ở ngưòi, thân nhiệt luôn luôn hằng định ở 36,5 – 37 độ C mặc dù nhiệt độ môi trường bên ngoài có nhiều biến động.
– Trung tâm điều nhiệt nằm ở hạ khâu não, luôn giữ điểm ngưỡng thân nhiệt ở mức bình thường là 37 độ C.
– Sốt là một phản ứng của trung khu dưới vỏ, nhưng chịu sự điều hòa của vỏ não. Vỏ não hoạt động bình thường có tác dụng cảm ứng âm tính đối với trung khu dưới vỏ, do đó sốt được giữ trong một giới hạn nhất định.
– Trạng thái thần kinh hưng phấn đáp ứng với sốt rõ rệt hơn là những người có trạng thái thần kinh thăng bằng.
– Ở trẻ nhỏ tuổi, vỏ não chưa hoàn chỉnh nên hay sốt cao dù nguyên nhân gây sốt rất nhẹ.
– Trung tâm điều nhiệt ở trẻ sơ sinh chưa được hoàn chỉnh và khả năng điều nhiệt kém nên thân nhiệt của trẻ dễ bị tác động với nhiệt độ môi trường.

Sốt

Sốt

III. SINH LÝ BỆNH CỦA SỐT
– Khi có sốt, trung tâm điều nhiệt nâng điểm ngưỡng thân nhiệt lên mức cao hơn 37 độ C do tác dụng của các chất gây sốt trên hệ thần kinh trung ương. Do đó ở nhiệt độ 37 độ C hạ khâu não xác định cơ thể đang bị nhiễm lạnh.
– Để chống lại, hạ khâu não làm tăng thân nhiệt bên trong lên bằng cách run và co mạch ngoại vi. Khi thân nhiệt đạt được nhiệt độ mới thì có sự cân bằng giữa sinh nhiệt và thải nhiệt, trẻ hết co mạch và tay chân ấm, nhiệt độ được duy trì trên lâm sàng tạo nên triệu chứng sốt.
– Khi bệnh lui, hạ khâu não đưa điểm ngưỡng thân nhiệt về mức 37 độ C, cơ thể ở trong tình trạng thừa nhiệt, nên đáp ứng lại để thải nhiệt bằng cách giãn mạch ngoại vi, toát mồ hôi.
– Tóm lại, một bệnh nhân sốt, bị giảm thân nhiệt lúc sốt bắt đầu, tăng thân nhiệt khi bệnh lui và bình nhiệt trong giai đoạn toàn phát. Có thể chia quá trình sốt làm 3 giai đoạn:
+ Sốt tăng: Sinh nhiệt mạnh hơn thải nhiệt. Thường có hiện tượng cường giao cảm, co mạch ngoại vi, da nhợt nhạt, chân tay lạnh, nổi da gà, các thớ thịt co lại, ngưng chảy mồ hôi, rét run.
+ Sốt đứng: Sinh nhiệt bằng thải nhiệt. Khi sốt cao, các mao mạch ngoài da dãn, mặt đỏ bừng, da khô nóng, nước tiểu giảm.
+ Sốt lui: Sinh nhiệt giảm, quá trình thải nhiệt tăng mạnh. Có hiện tượng cường phó giao cảm, mạch chậm lại, ra mồ hôi nhiều, tiểu nhiều.

sốt

sốt

IV. BỆNH NGUYÊN
4.1. Tác nhân gây sốt ngoại lai
– Vi khuẩn và độc tố.
– Lipopolysacchride của thành phần vi khuẩn gam âm.
– Protein kháng nguyên của vi khuẩn gam dương.
– Các thành phần protein của độc tố vi khuẩn.
– Virus, nấm men, mycobacteries.
– Các protein khác mang tính kháng nguyên.
– Vài steroides: Có chứa gốc hydroxyl 3, ion hydrogen 5, progesterone trong chu kỳ kinh nguyệt.
– Thuốc điều trị: Ampicillin, các cephalosporin, amphotericin B, barbiturates, quinidine, thiouracil …
4.2. Chất gây sốt nội sinh (E.P – endogenous pyrogen)
– Chất gây sốt nội sinh là một protein, sản sinh từ bạch cầu đa nhân, đại thực bào, các tế bào Kupffer ở gan, đại thực bào ở lách, đại thực bào ở phế nang.
– Các lymphocytes có thể phản ứng với kháng nguyên và qua tác dụng của lymphokines có thể kích thích bạch cầu đa nhân trung tính và đại thực bào để phóng thích ra chất gây sốt nội sinh.
– Tuy nhiên có những trường hợp sốt mà thiếu chất gây sốt nội sinh, nhưng lại có nồng độ prostaglandines rất cao (PGE1, PGE2).
4.3. Các nguyên nhân gây sốt cụ thể
– Sốt do nhiễm khuẩn: Vi trùng, ký sinh trùng, virus
– Sốt không do nhiễm khuẩn:
+ Bệnh huyết thanh, bệnh collagen, bệnh tự miễn.
+ Bệnh ung thư: ung thư máu, bệnh Hodgkin, Lymphoma….
+ Bệnh huyết tán: những bất thường của hồng cầu gây tan máu.
+ Bệnh Basedow do rối loạn nội tiết.
+ Bệnh rối loạn chuyến hóa: Bệnh porphyria, bệnh hypertriglyceridemia, bệnh goutte.
– Bệnh do rối loạn thần kinh: Khi các thụ thể thần kinh bị kích thích có thể gây sốt ngay cả khi không có nhiễm trùng.
– Những tổ chức bị tổn thương hoại tử hay chảy máu.
– Protein ngoại lai.
– Say nắng, nhiễm nóng
– Xuất huyết nội
– Dược liệu.

V. THEO DÕI SỐT
– Để theo dõi sốt cần đo nhiệt độ chính xác bằng nhiệt kế, ưu tiên dùng nhiệt kế thủy ngân do độ chính xác cao và dể tiếp cận (rẻ tiền).
– Nhiệt kế có nhiều loại, chủ yếu là loại nhiệt kế thủy ngân, lấy nhiệt độ có thể ở nách, miệng và hậu môn, ở trẻ em.
– Khuyến cáo lấy nhiệt độ nách, vì lấy nhiệt độ miệng và hậu môn gây kích thích trẻ và trẻ thường không hợp tác.

VI. PHÂN LOẠI SỐT
6.1. Theo mức thân nhiệt
– Sốt nhẹ: dưới 38 độ C.
– Sốt vừa: 38 – 39 độ C.
– Sốt cao: 39 – 41 độ C.
– Sốt rất cao: trên 41độ C.
6.2. Theo thời gian sốt
– Sốt cấp tính: Thường dưới 7 ngày.
– Sốt kéo dài: Thường trên 7 tới 10 ngày, có khi kéo dài trên 2 – 3 tuần.
6.3. Theo kiểu sốt trên lâm sàng
– Sốt cao liên tục: Nhiệt độ lúc nào cũng trên 39 độ C, dao động sáng chiều không quá 1 độ C.
– Sốt cao dao động: Thân nhiệt lúc nào cũng cao, dao động mạnh, sáng chiều chênh lệch từ 1,5 độ C.
– Sốt từng cơn: Thân nhiệt có lúc bình thường, lúc tăng cao.
– Sốt hồi qui: Cứ sau mỗi đợt sốt 3 – 7 ngày lại có một đợt không sốt, tiếp theo là một đợt sốt trở lại.
– Sốt làn sóng: Thân nhiệt từ từ lên cao, sau đó ít lâu lại từ từ giảm xuống đến mức bình thường, sau một thời gian dài ngắn tùy trường hợp.
– Sốt dạng cao nguyên: Sốt từ từ lên cao, duy trì sốt cao liên tục 7 – 10 ngày hoặc dài hơn, rồi sốt từ từ giảm xuống.
– Sốt cách nhật: Ngày sốt một cơn, ngày hôm sau nghỉ sốt, tiếp theo lại sốt cơn khác.
– Sốt về chiều: Thường sốt không cao, sốt về chiều và đêm.
– Sốt hai pha: Pha một sốt cao đột ngột từ 1 đến 5 ngày, giảm sốt đột ngột một hai ngày, sốt lại pha hai cao đột ngột kéo dài 1 – 2 ngày.
– Sốt kéo dài không theo qui luật nào.

VII. HẬU QUẢ CỦA SỐT
7.1. Hậu quả tốt
– Sốt có tác dụng trên các mầm bệnh hoặc trực tiếp do tăng nhiệt độ kích thích các phản ứng tự vệ của cơ thể, hoặc gián tiếp qua nhiều trung gian.
– Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy nhiệt độ có tác dụng ức chế sinh trưởng của vi khuẩn.
– Chất gây sốt nội sinh là tiền đề nhiều sự biến đổi trong nội môi và hàng loạt đáp ứng kích thích có lợi cho cơ thể, gia tăng sản sinh các bạch cầu đa nhân trung tính, phóng thích các lysozyme và lactoferrin.
– Tăng bài tiết corticosteroids, glucagon, insulin với những tác dụng chuyển hóa thứ phát.
– Sốt tạo điều kiện cho virus tiêu hủy lysosome, gây chết tế bào, kéo theo sự chết của virus.
– Sốt tác dụng gián tiếp qua trung gian interferon, ức chế không đặc hiệu sự tổng hợp của nhiều chất và sự sinh trưởng của virus.
7.2. Hậu quả xấu
– Sốt cao ở trẻ em thường gây co giật nhất là đối với trẻ dưới 3 tuổi.
– Sốt cao kéo dài gây mất nước và điện giải qua thải mồ hôi và tăng nhịp thở.
– Gây nhiễm kiềm hô hấp.
– Sốt cao kéo dài gây vỡ hồng cầu gây thiếu máu, tăng chuyển hóa gây suy kiệt.

VIII. ĐIỀU TRỊ
8.1. Paracetamol
– Thuốc hạ nhiệt được khuyến cáo dùng cho trẻ em là Paracetamol.
– Dạng bào chế: Thuốc được bào chế dưới nhiều dạng: dung dịch, gói bột, viên sủi và viên nén đường uống, viên tọa dược dùng đường hậu môn.
– Không nên dùng thuốc hạ nhiệt theo đường tiêm bắp và đường tĩnh mạch đối với trẻ em.
– Paracetamol dạng uống được hấp thu nhanh và gần như hoàn toàn, dạng tọa dược được chỉ định khi trẻ nôn hoặc không uống được, thuốc được hấp thu kéo dài hơn, tác dụng của cả 2 dạng là tương đương.
– Thuốc phân phối nhanh, liên kết với protein huyết tương, nồng độ tối đa đạt được sau 30 – 60 phút đối với dạng uống, sau 2 – 3 giờ đối với dạng tọa dược.
– Thuốc chuyển hóa ở gan, đào thải trong nước tiểu, có 4% được chuyển hóa dưới tác dụng của cytochrome P450 thành chất chuyển hóa, chất này sau đó được liên hợp với glutathion, trường hợp ngộ độc do dùng liều cao là do lượng chất chuyển hóa này tăng lên.
– Chống chỉ định ở trẻ qúa mẫn cảm với Paracetamol, suy chức năng gan. Một vài trường hợp dùng có dị ứng: phát ban ngoài da, hồng ban, nổi mề đay.
– Triệu chứng quá liều là buồn nôn, ói mửa, chán ăn, xanh xao, đau bụng. Ở trẻ em dùng một liều > 150 mg/kg có thể gây phân hủy tế bào gan đưa đến hoại tử hoàn toàn và không hồi phục, nhiễm toan chuyển hóa, bệnh lý não dẫn đến hôn mê hoặc tử vong. Giải độc băng acetyl cystein.
– Trẻ em liều lượng Paracetamol là: 10 -15 mg/kg/lần uống, hoặc 60 mg/kg/24 giờ, chia 4 lần uống/ngày, nên lấy lại nhiệt độ trước khi uống liều tiếp theo.
– Đối với các trẻ có tiền sử sốt cao gây co giật, nên chủ động cho an thần khi có sốt, phenobarbital uống liều 7 – 10 mg/kg, nếu không uống được có thể cho theo đường tiêm bắp hoặc tỉnh mạch đồng thời chủ động cho hạ nhiệt sớm.
– Nếu trẻ đang lên cơn co giật có sốt bằng mọi giá phải xử trí cắt cơn giật ưu tiên trước khi cho các chỉ định điều trị khác.
8.2. Các biện pháp hạ nhiệt vật lý
– Cho trẻ mặc thoáng mát, có thể dùng quạt, máy điều hòa, chườm ấm bằng nước ấm thấp hơn nhiệt độ sốt.
– Không đắp nước đá trực tiếp lên trán, bụng, không thụt nước đá rửa dạ dày, không bôi cồn toàn thân.
– Tránh cho trẻ có cảm giác khó chịu, tránh cho trẻ có cảm giác lạnh và quá lạnh gây nên phản ứng run và co mạch ngoại vi.

IX. CHĂM SÓC TRẺ BỊ SỐT
– Theo dõi phát hiện dấu hiệu nặng: Một trẻ có sốt không có chỉ định điều trị nội trú cần dặn bà mẹ mang trẻ khám lại sau hai ngày và tham vấn cho bà mẹ các triệu chứng cần mang trẻ khám lại ngay.
– Cho trẻ ăn uống đủ nước: Tham vấn cho bà mẹ về chế độ ăn, ăn bình thường, ăn nhiều bữa, không nên cho trẻ ăn ít lại, nhất là không nên cho trẻ ăn thiếu chất. Chú ý cho trẻ uống nước nhiều hơn bình thường, giải thích cho bà mẹ hiểu vì sao phải uống nước nhiều hơn, các loại dịch mà trẻ uống được.
– Không nên mặc nhiều quần áo nhất là các áo quần ấm. Lưu ý có sự khác biệt khi trẻ sốt về mùa quá nóng và quá lạnh.
– Không nên chích lể.
Tóm lại phải đánh giá sốt cho đúng cả hai mặt lợi và hại. Điều trị bệnh nguyên là phương pháp hạ nhiệt tốt nhất và đúng đắn nhất. Tuy nhiên vẫn phải ngăn ngừa tác hại của sốt bằng cách phối hợp thải nhiệt qua da với thuốc hạ sốt để hạ ngưỡng nhiệt cao ở hạ khâu não song song với điều trị đặc hiệu.

Bài viết liên quan