SỐT RÉT

Sốt rét

I. ĐẠI CƯƠNG
– Sốt rét là bệnh truyền nhiễm lây theo đường máu, do ký sinh trùng sốt rét được truyền bởi muỗi Anopheles.
– Bệnh lưu hành mang tính địa phương và có thể phát thành dịch.
– Đặc điểm lâm sàng nổi bật của bệnh là sốt thành cơn với 3 giai đoạn: rét, nóng, vã mồ hôi; sốt có chu kỳ kèm theo gan to, lách to, thiếu máu.

II. BỆNH NGUYÊN
2.1. Tác nhân gây bệnh
Ký sinh trùng sốt rét là một loại đơn bào, họ Plasmodidae, lớp Protozoa, loài Plasmodium. Có 4 loài ký sinh trùng sốt rét gây bệnh ở người là:
– P. falciparum: Có chu kỳ sinh sản thường là 48 giờ. Đây là loại thường gây các thể nặng như sốt rét ác tính, sốt rét đái huyết cầu tố, sốt rét dai dẳng …
– P. vivax: Có chu kỳ sinh sản thường là 48 giờ
– P. ovale: Có chu kỳ sinh sản thường là 72 giờ
P. vivax và P.ovale có một thể đặc biệt là thể ngủ ở trong gan, thường gây các cơn sốt tái phát xa.
– P. malariae: Có chu kỳ sinh sản thường là 72 giờ
Ở Việt Nam 2 loại ký sinh trùng sốt rét phổ biến nhất là P. falciparum và P. vivax; ngoài ra còn gặp P. malariae nhưng hiếm hơn.
2.2. Nguồn bệnh
– Là những bệnh nhân sốt rét và người mang ký sinh trùng lạnh.
– Bệnh nhân sốt rét sơ nhiễm là nguồn bệnh từ khi có giao bào trong máu (từ ngày 10 – 14 với P. falciparum và từ ngày thứ 3 với P. vivax).
– Bệnh nhân sốt rét tái phát có khả năng lây truyền sớm hơn.
– Người mang ký sinh trùng lạnh: Thường là người sống và bị nhiễm ký sinh trùng từ nhỏ tại vùng sốt rét lưu hành, cơ thể đã có một phần miễn dịch, tỷ lệ mang ký sinh trùng lạnh thường tăng theo tuổi ở vùng sốt rét nặng.
2.3. Đường lây truyền
Bệnh lây truyền qua đường máu với các phương thức khác nhau:
– Phương thức chủ yếu là lây truyền qua muỗi Anopheles. Ba vector truyền bệnh chính ở Việt Nam hiện nay là: An. minimus, An. dirus, An. sundaicus.
– Phương thức thứ yếu là lây truyền qua đường truyền máu, đường mẹ – con qua nhau thai.
2.4. Mùa sốt rét
– Tuỳ thuộc vào mùa phát triển của muỗi Anopheles và hoạt động của con người.
– Ở miền Bắc thường có đỉnh cao vào tháng 4 – 5 và tháng 9 – 10; riêng tháng 6 – 7 – 8 thường có mưa lũ, bọ gậy Anopheles kém phát triển; những tháng rét nhiệt độ < 20°C, muỗi giảm sinh sản.
– Ở miền Nam nhiệt độ quanh năm trên 20°C, nên bệnh có cả năm, phát triển nhiều vào mùa mưa.
2.5. Phân vùng sốt rét
Hiện tại, Việt Nam được phân làm 7 vùng là:
– Vùng I (vùng đồng bằng và đô thị): Không có sốt rét lưu hành.
– Vùng II (trung du, nước chảy, đồi thấp): Sốt rét lưu hành nhẹ.
– Vùng III (nước chảy, núi đồi, rừng thưa): Sốt rét lưu hành vừa.
– Vùng IV (nước chảy, núi rừng miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên): Sốt rét lưu hành nặng.
– Vùng V (cao nguyên miền Bắc): Sốt rét lưu hành nhẹ.
– Vùng VI (núi cao trên 800 m ở miền Bắc, trên 1200 – 1500 m ở miền Nam): Không có sốt rét lưu hành.
– Vùng VII (ven biển nước lợ): Có sốt rét lưu hành mức độ khác nhau và không ổn định.

triệu chứng sốt rét

sốt rét

III. BỆNH SINH
3.1. Cơn sốt rét
– Các thể hoa thị (rosace) khi vỡ ra, giải phóng sắc tố sốt rét (hemozoine) vào máu.
– Yếu tố này như một chí nhiệt tố tác động lên trung tâm điều hoà nhiệt độ tương tự một nội độc tố.
– Chu kỳ cơn sốt: Tuỳ thuộc vào chu kỳ vô tính trong hồng cầu của loại ký sinh trùng, chu kỳ này ở thời kỳ sơ nhiễm thường không đồng nhịp (asynchrone), dần dần về sau đồng nhịp hơn.
3.2. Thiếu máu
– Do hồng cầu nhiễm ký sinh trùng bị vỡ bởi 2 yếu tố:
+ Các hoa thị vỡ và giải phóng merozoite vào huyết tương;
+ Quá trình thực bào hồng cầu bởi tế bào đơn nhân.
– Ngoài ra còn do sự tương tác giữa các kháng thể với các kháng nguyên ký sinh trùng đã gắn vào màng hồng cầu gây ra huyết tán miễn dịch (immuno hemolyse)
3.3. Gan to, lách to
– Do xung huyết và tăng hoạt tính ở gan, lách.
– Trong lách có hai loại tế bào tham gia là những tế bào lympho tổng hợp các kháng thể và những tế bào monocytes – đại thực bào hoạt động thực bào những hồng cầu nhiễm ký sinh trùng.
– Trong gan, các tế bào Kupffer cũng tham gia hoạt động thực bào.

triệu chứng sốt rét

triệu chứng sốt rét

IV. GIẢI PHẪU BỆNH
– Tổn thương các tổ chức trong sốt rét đều do thiếu máu, rối loạn huyết động ở vi tuần hoàn gây thiếu oxy tế bào, dồng thời còn do những biểu hiện độc tế bào.
– Những tổn thương ở não, thận, tim, phổi, ống tiêu hoá thường gặp ở những thể sốt rét nặng, những thể sốt rét ác tính do P. falciparum.
– Ở sốt rét do P. vivax và những thể thông thường của P. falciparum, chủ yếu gặp tổn thương rõ ở lách và gan.

V. LÂM SÀNG SỐT RÉT THỂ THÔNG THƯỜNG ĐIỂN HÌNH
5.1. Đặc điểm chung:
– Thời gian nung bệnh: Thường 7 – 21 ngày
– Sau khi bị sơ nhiễm: Sốt cao liên tục những ngày đầu, rồi chuyển thành sốt cơn.
– Cơn sốt rét có 3 giai đoạn: Cơn rét, sốt nóng, sau đó vã mồ hôi.
– Cơn sốt rét có tính chu kỳ: Cơn hàng ngày, cách nhật, cách 2 ngày tuỳ loại ký sinh trùng, giữa 2 cơn bệnh nhân sinh hoạt gần như bình thường.
– Kèm theo: Thiếu máu giảm hồng cầu; bạch cầu bình thường hoặc giảm; lách và gan to. Triệu chứng nhiễm độc chung: Nhức đầu, mất ngủ, kém ăn, đau mỏi cơ khớp.
– Đặc điểm lâm sàng tuỳ thuộc vào: loại ký sinh trùng, sơ nhiễm hay tái phát, thể địa bệnh nhân – trẻ hay người lớn, phụ nữ mang thai …
5.2. Sốt rét sơ nhiễm
– Đối tượng mắc: Người từ vùng lành mới tới vùng sốt rét, chưa có miễn dịch với sốt rét.
– Trong vùng lưu hành: Trẻ em từ 4 tháng đến 2 – 4 tuổi.
– Giai đoạn đầu:
+ Tiền triệu: Đau mỏi cơ khớp, nhức đầu, chán ăn, đắng miệng, gai lạnh sống lưng, ngáp vặt …
+ Sốt tăng nhanh trong vài ngày, rồi trở thành sốt liên tục ở 39 – 40 độ C, hoặc giao động không đều
– Giai đoạn sau:
+ Nếu không được điều trị sau 8 – 15 ngày thành sốt cơn với 3 giai đoạn: Rét, nóng, vã mồ hôi.
+ Trong sốt rét sơ nhiễm, thời gian của một cơn sốt dài trung bình 6 – 12 giờ.
– Sốt có chu kỳ:
+ Cách 48 giờ (cách 1 ngày) với P. falciparum và P. vivax.
+ Cách 72 giờ (cách 2 ngày) với P. malariae.
– Với P. falciparum thường hay gặp hơn là cơn hàng ngày (cách 24 giờ) do có 2 lứa ký sinh trùng trở lên phát triển so le, không đồng nhịp.
– Đặc điểm khác của sốt rét sơ nhiễm:
+ Triệu chứng nhiễm trùng nhiễm độc, rối loạn thần kinh thực vật thường nặng hơn sốt rét tái phát:
+ Cơn rét run bần bật, nổi da gà, tái xanh;
+ Cơn nóng dữ dội kèm theo nhức đầu nặng, nôn mửa, có khi vật vã mê sảng, nhịp thở tăng, đau bụng, tiêu chảy … cuối cùng mồ hôi vã như tắm.
– Trong sốt rét sơ nhiễm, hồng cầu có thể chưa giảm nhiều, lách có thể chưa sờ thấy dưới bờ sườn, nhưng mật độ ký sinh trùng thường cao, và thường chưa thấy giao bào trong 8 – 10 ngày đầu với P. falciparum và 2 ngày đầu với P. vivax.
– Sốt rét sơ nhiễm do P. falciparum dễ chuyển thành nặng (sốt rét ác tính, sốt rét đái huyết cầu tố).
5.3. Sốt rét tái phát
– Cơn sốt rét tái phát do nhiều nguyên nhân:
+ Thể vô tính trong hồng cầu sót lại từ đợt trước tiếp tục phát triển, vượt ngưỡng gây sốt. Đối với P. falciparum, P. vivax tái phát gần sau trung bình 7 – 14 ngày (loại này còn gọi là bột phát). Cũng có thể xuất hiện sau 3 – 6 tháng với P. falciparum ở những người đã có một phần miễn dịch.
+ Thể ngủ trong gan (hypnozoite) đối với P. vivax, P. ovale (tái phát xa sau vài tuần đến 9 – 10 tháng).
– Đối tượng mắc:
+ Bệnh nhân sốt rét do P. falciparum kháng thuốc điều trị không diệt hết thể vô tính trong máu.
+ Bệnh nhân sốt rét do P. vivax không được dùng thuốc diệt thể trong gan (hypnozoite).
+ Những người đã bị nhiễm ký sinh trùng trong tiền sử, có cơn sốt rét trước đó 1 – 2 năm (P.falciparum); 1,5 – 5 năm (P. vivax và P. ovale); 3 – 5 năm (P. malariae), tuỳ thuộc vào thời gian ký sinh trùng tồn tại trong cơ thể.
– Sốt rét tái phát hay gặp trong điều kiện lao động nặng nhọc, và trong thời kỳ sơ nhiễm (6 tháng đầu).
– Đặc điểm lâm sàng cơn sốt rét tái phát:
+ Thường sốt thành cơn điển hình với 3 giai đoạn và có chu kỳ ngay từ lúc khởi phát.
* Giai đoạn rét run: Cơn rét từ dọc sống lưng truyền ra toàn thân, 2 hàm răng đập vào nhau, run bần bật, đắp nhiều chăn vẫn rét, kèm theo môi tái, mắt quầng, nổi gai ốc, mạch nhanh nhỏ, lách to ra, đái nhiều; cơn rét dài từ 15 phút đến 1 – 2 giờ.
* Giai đoạn nóng (trung bình từ 2 – 4 giờ hoặc hơn tuỳ theo mức độ): Từ khi hết cơn rét, bệnh nhân nóng bức, tung chăn, mặt đỏ, mắt đỏ, da khô nóng, rức đầu, chóng mặt, hay nôn, nhiệt độ tới 40 – 41 độ C, mạch đập mạnh và nhanh, thở nhanh, có thể hơi đau vùng gan lách, nước tiểu ít và sẫm màu.
* Giai đoạn vã mồ hôi: Nhiệt độ giảm, vã mồ hôi ở trán, đầu, mặt đến toàn thân. Bệnh nhân dễ chịu hẳn, chỉ còn khát nước, đôi khi ngủ thiếp.
5.4. Các triệu chứng khác:
– Lách: Thời kỳ sơ nhiễm lách sưng, hơi đau, sờ thấy dưới bờ sườn ở 60 – 70% bệnh nhân, chưa rắn chắc và trở về bình thường nếu điều trị tốt. Nếu sốt tái diễn nhiều năm (tái phát, tái nhiễm) hoặc do không điều trị tốt, nhất là trong vùng sốt rét lưu hành nặng, lách sẽ xơ hoá rắn chắc không co lại được.
– Gan: Trong thời kỳ sơ nhiễm gan sưng xấp xỉ như lách (40 – 60%), các chức năng gan thường chưa bị rối loạn rõ.
– Thiếu máu: Da bệnh nhân ngoài cơn sốt thường xanh; có khi da xạm, môi thâm (trong sốt rét lâu năm).

VI. CẬN LÂM SÀNG
6.1. Phát hiện ký sinh trùng sốt rét trong máu ngoại vi (kỹ thuật thường quy).
– Đánh giá mật độ KST trên giọt dày
+ 1 – 10 KST trên 100 vi trường: (+)
+ 11 – 100 KST trên 100 vi trường: (++)
+ 1 – 10 KST trên 1 vi trường: (+++)
+ 11 – 100 KST trên 1 vi trường: (++++)
– Định loài ký sinh trùng sốt rét trên giọt mỏng.
6.2. Kỹ thuật QBC (Quantitative Buffy Coat)
– Nhuộm hồng cầu có ký sinh trùng bằng Acridin, quay ly tâm, để tập trung lớp hồng cầu có ký sinh trùng, rồi xem dưới kính huỳnh quang.
– Kỹ thuật này dùng trong trường hợp cần xác định căn nguyên sốt rét nhưng ký sinh trùng quá ít, không phát hiện được bằng kỹ thuật thường quy.
– QBC không cho phép định lượng và định loại, trừ khi có giao bào P. falciparum.
6.3. Kỹ thuật phát hiện kháng thể sốt rét bao gồm:
– Phương pháp huỳnh quang gián tiếp (IFAT):
+ Phản ứng dương tính từ 7 – 10 ngày sau khi nhiễm, hiệu giá có thể đạt ở thời kỳ cấp, hiệu giá này tăng lên hoặc giảm dần tùy theo tái nhiễm có tiếp tục xảy ra hay không.
+ Phương pháp này thường được dùng để chọn lọc các mẫu máu đưa vào ngân hàng máu.
– Phương pháp ngưng kết hồng cầu thụ động hay gián tiếp (IHA):
+ Nhược điểm là có thể âm tính với người mới nhiễm.
+ Nhưng lại dương tính rất lâu với một số loại kháng nguyên ký sinh trùng sau 6 – 8 năm kể từ khi khỏi bệnh.
– Phương pháp miễn dịch hấp phụ gắn men (ELISA) và miễn dịch phóng xạ (RIA):
+ Hiện nay ELISA và RIA đang được sử dụng rộng rãi vào nghiên cứu hồi cứu và điều tra dịch tễ ở thực địa.
+ Giá trị đặc hiệu phụ thuộc vào độ tinh khiết và tính đặc hiệu của kháng nguyên.
6.4. Kỹ thuật phát hiện kháng nguyên
– Những năm gần đây đã có những test phát hiện kháng nguyên lưu hành đặc hiệu của P. falciparum trên cơ sở dùng những kháng thể đơn dòng và đa dòng (như Parasight F. test…), nhưng vì kháng nguyên thường tồn tại trong máu một thời gian sau khi ký sinh trùng đã hết và test này không giúp định loại ký sinh trùng, nên giá trị chẩn đoán bệnh của test này đã bị giảm.
6.5. Test phát hiện phân tử sinh học (PCR)
– Sự phát triển của công nghệ sinh học phân tử đã cung cấp một số test mới như phản ứng chuỗi polymeraza (PCR) giúp chẩn đoán định chủng ký sinh trùng, xác định được nhiễm ký sinh trùng ở mức độ thấp (5 – 10 ký sinh trùng/ml máu).
– Ngoài ra còn giúp xác định chủng loại vector.

VII. CHẨN ĐOÁN
Chẩn đoán quyết định dựa vào:
– Đặc điểm lâm sàng
+ Khởi phát đột ngột hoặc từ từ với những triệu chứng báo trước (như rối loạn thần kinh thực vật, rối loạn tiêu hóa …)
+ Cơn sốt rét điển hình (có 3 giai đoạn, có chu kỳ)
+ Gan to, lách to
+ Thiếu máu
– Xét nghiệm: Ký sinh trùng sốt rét thể vô tính dương tính ở máu ngoại vi hoặc tuỷ đồ là tiêu chuẩn chẩn đoán xác định bệnh và nguyên nhân gây bệnh.
– Yếu tố dịch tễ: Đang ở vùng sốt rét hoặc có tiền sử sốt rét; hoặc vừa ra khỏi vùng sốt rét chưa quá 1,5 năm đối với P. falciparum; 3 – 4 năm đối với P. vivax.

VIII. ĐIỀU TRỊ SỐT RÉT THỂ THÔNG THƯỜNG
8.1. Thuốc sốt rét
Phác đồ điều trị bệnh sốt rét (Theo Quyết định số 4605/QĐ-BYT ngày 24/11/2009 của Bộ Y tế)
– Lựa chọn thuốc sốt rét theo nhóm bệnh nhân, chủng loại ký sinh trùng sốt rét -xem hình đính kèm
– Các loại thuốc sốt rét có liều lượng tính theo cân nặng cơ thể:
+ Chloroquin phosphat, viên 250 mg (trong mỗi viên có 150 mg bazơ): Tổng liều 25 mg bazơ/kg, chia 3 ngày điều trị như sau:
* Ngày 1: 10 mg bazơ/kg cân nặng
* Ngày 2: 10 mg bazơ/kg cân nặng
* Ngày 3: 5 mg bazơ/kg cân nặng
+ Quinin sulfat, viên 250 mg: Liều 30 mg/kg/ngày (chia làm 3 lần uống mỗi ngày). Điều trị 7 ngày.
+ Primaquin, viên 13,2 mg (trong mỗi viên có 7,5 mg bazơ)
* Điều trị giao bào P. falciparum: liều 0,5 mg bazơ/kg/24 giờ, điều trị liều duy nhất vào ngày cuối cùng của đợt điều trị.
* Điều trị P. vivax: Liều 0,25 mg/kg/ngày x 14 ngày, diệt thể trong gan, chống tái phát, điều trị vào ngày đầu tiên cùng Chloroquin
* Không dùng Primaquin cho trẻ em dưới 3 tuổi, phụ nữ có thai, người có bệnh gan và người thiếu men G6PD.
* Uống sau khi ăn.
+ Artesunat tiêm, lọ 60 mg
* Liều giờ đầu 2,4 mg/kg, 12 giờ sau tiêm nhắc lại 1,2 mg/kg, sau đó mỗi ngày tiêm 1 liều 1,2 mg/kg cho đến khi bệnh nhân tỉnh, có thể uống được, chuyển sang thuốc Dihyroartemisinin – Piperaquin cho đủ liều liều trị.
* Không dùng Artesunat cho phụ nữ có thai trong 3 tháng đầu, trừ trường hợp sốt rét ác tính mà mà không có Quinin.
* Việc pha thêm 5 ml Natri chlorua 9 ‰ là để chia liều lượng chính xác cho bệnh nhân trẻ em
* Trường hợp không tiêm được tĩnh mạch thì có thể tiêm bắp. Chỉ cần pha bột thuốc với 1 ml Natri bicarbonat 5 %, lắc kỹ cho bột Artesunat tan hoàn toàn rồi tiêm bắp.
+ Quinin hydrochlorit, ống 500 mg:
* Tiêm bắp 30 mg/kg/24 giờ. Mỗi đợt điều trị 7 ngày.
* Tiêm Quinin dễ gây áp xe, cần tiêm bắp sâu và bảo đảm vô trùng
+ Quinin dihydrochlorit, ống 500 mg
* Thuốc được pha trong Natri clorua 9‰ hoặc Glucoza 5% để truyền tĩnh mạch.
* Nếu trước đó bệnh nhân chưa điều trị Quinin thì truyền tĩnh mạch với liều 20 mg/kg 8 giờ đầu, sau đó 10 mg/kg 8 giờ một lần cho đến khi bệnh nhân uống được chuyển sang dùng Quinin sulfat liều 30 mg/kg chia 3 lần trong ngày cho đủ 7 ngày điều trị.
* Nên phối hợp với Doxycyclin liều 3 mg/kg/ngày x 7 ngày.
* Đối với trẻ em dưới 8 tuổi và phụ nữ có thai, dùng Quinin với liều lượng như trên phối hợp với Clindamycin liều 15 mg/kg/ngày x 7 ngày.
+ Doxycyclin, viên 100 mg
* Liều 3 mg/ kg/ ngày, uống 1 lần x 7 ngày
* Chỉ dùng phối hợp với Quinin ở bệnh nhân sốt rét người lớn và trẻ em trên 8 tuổi.
+ Clindamycin, viên 150 mg và viên 300 mg
* Liều 15 mg/ kg/ 24 giờ, chia làm 2 lần
* Chỉ dùng phối hợp với Quinin ở phụ nữ có thai dưới 3 tháng và trẻ em dưới 8 tuổi
– Các loại thuốc sốt rét có liều lượng tính theo lứa tuổi:
+ Viên thuốc phối hợp Dihydroartemisinin – Piperaquin:
* Mỗi viên có hàm lượng dihydroartemisinin 40mg + Piperaquin phosphat 320mg.
* Điều trị 3 ngày, liều lượng tính theo lứa tuổi – chi tiết xem hình đính kèm.
* Biệt dược là Arterakine, CV Artean.
* Không dùng cho phụ nữ có thai 3 tháng đầu

sốt rét

sốt rét

8.2. Theo dõi kết quả điều trị
– Theo dõi lâm sàng
+ Theo dõi chặt chẽ bằng cách lấy nhiệt độ 3 giờ/lần khi bệnh nhân còn sốt.
+ Nếu sau 3 ngày điều trị mà bệnh nhân vẫn sốt hoặc tình trạng xấu đi và còn ký sinh trùng trong máu thì phải thay thuốc.
+ Nếu không còn ký sinh trùng thì phải tìm nguyên nhân khác.
– Theo dõi KST
+ Lấy lam xét nghiệm chủng ký sinh trùng và mật độ ký sinh trùng vào ngày bắt đầu điều trị, 2 ngày và 7 ngày sau điều trị để đánh giá hiệu lực của thuốc.
8.3. Phân loại đáp ứng điều trị.
– Thất bại điều trị sớm: Tới ngày thứ 3 điều trị mà các triệu chứng lâm sàng không giảm hoặc nặng lên và còn ký sinh trùng sốt rét trong máu.
– Thất bại điều trị muộn: Từ ngày thứ 4 tới ngày 28, bệnh nhân sốt và có ký sinh trùng sốt rét trở lại.
– Khỏi bệnh: Hết sốt và sạch ký sinh trùng sốt rét sau 3 ngày điều trị cho tới ngày thứ 28
8.4. Tiêu chuẩn ra viện
– Hết sốt và hết ký sinh trùng sốt rét (tốt nhất là ≥ 7 ngày), ăn ngủ bình thường.
– Hồng cầu ≥ 3,5 T/L, bạch cầu bình thường.
– Chức năng gan, thận bình thường.

IX. PHÒNG BỆNH
Để khỏi mắc bệnh sốt rét cần tránh muỗi đốt, mọi người cần thực hiện các biện pháp sau:
– Thường xuyên ngủ màn, ngay cả ban ngày và màn cần được tẩm hóa chất diệt muỗi. Đây là biện pháp tốt nhất để phòng bệnh sốt rét.
– Sử dụng một số biện pháp xua đuổi muỗi như vợt muỗi, nhang muỗi, kem chống muỗi, khi làm việc vào buổi tối cần được trang bị quần áo dài tay để đề phòng muỗi đốt.
– Cần vệ sinh môi trường xung quanh nơi ở, loại bỏ những nơi trú ẩn của muỗi như phát quang bụi rậm, khơi thông cống rãnh, sắp xếp vật dụng trong nhà ngăn nắp, sạch sẽ, quần áo phải được xếp gọn gàng không nên treo hay móc quần áo trên tường làm chỗ cho muỗi đậu … vv …
– Những người đi làm ở vùng rừng núi cần mang theo màn để ngủ, trước khi đi nên đến cơ sở y tế để được cấp thuốc uống phòng và khi trở về từ vùng rừng núi nên đến cơ sở y tế để được khám, xét nghiệm, nếu có bị sốt rét sẽ được điều trị kịp thời.
– Khi thấy các triệu chứng của bệnh sốt rét như: Rét run, sốt nóng sau đó vã mồ hôi hoặc cảm thấy ớn lạnh, gai rét, người bệnh cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Bài viết liên quan