SỐT XUẤT HUYẾT HỘI CHỨNG THẬN DO HANTAVIRUS

Sốt xuất huyết hội chứng thận do Hantavirus là bệnh gây ra do chuột cắn còn gọi là Hantavirus hemorrhagic fever with renal syndrome (HFRS) bệnh gây ra bởi virus Hanta được truyền qua vết cắn của chuột và gây ra sốt xuất huyết kèm suy thận. Bệnh phổ biến ở châu Âu, châu Á và châu Phi.
Hantavirus gây ra hai thể bệnh với tỷ lệ tử vong cao là Sốt xuất huyết hội chứng thận (HFRS – Haemorrhagic Fever with Renal Syndrome) và Hội chứng phổi do Hantavirus (HPS – Hantanvirus Pulmonary Syndrome).

Không có mô tả ảnh.

1. Đặc điểm của bệnh.

1.1. Định nghĩa ca bệnh.
– Ca bệnh lâm sàng: Bệnh sốt xuất huyết hội chứng thận là bệnh virus cấp tính truyền từ động vật sang người; Thời gian ủ bệnh thông thường từ 2 tới 3 tuần, có đặc điểm là sốt đột ngột, ớn lạnh, nhức đầu, đau phần dưới lưng, biếng ăn, khát nước, buồn nôn, đau bụng, viêm họng, phù mặt, xuất huyết nhiều mức độ khác nhau có liên quan đến triệu chứng ở thận.
Bệnh có thể được chia thành 5 giai đoạn:
+ Giai đoạn sốt
Các triệu chứng bao gồm đỏ má và mũi, sốt, ớn lạnh, đổ mồ hôi lòng bàn tay, tiêu chảy, mệt mỏi, đau đầu, buồn nôn, đau bụng và lưng, các vấn đề về hô hấp.
Những triệu chứng này có thể tương tự như virus cúm, các vấn đề về dạ dày – ruột. Những triệu chứng này thường xảy ra trong 3 – 7 ngày và tăng dần từ 2 – 3 tuần sau khi tiếp xúc.
+ Giai đoạn hạ huyết áp
Giai đoạn này xảy ra khi lượng tiểu cầu trong máu giảm và có thể dẫn đến nhịp tim nhanh và thiếu oxy. Giai đoạn này có thể kéo dài trong 2 ngày.
+ Giai đoạn thiểu niệu (lượng nước tiểu thấp)
Giai đoạn này kéo dài từ 3 – 7 ngày và được đặc trưng bởi sự khởi đầu của suy thận và protein niệu.
+ Giai đoạn lợi tiểu
Giai đoạn lợi tiểu được đặc trưng bởi tiểu nhiều 3 – 6 lít nước tiểu mỗi ngày, có thể kéo dài trong một vài ngày đến vài tuần.
+ Giai đoạn hồi phục
Sức khỏe được hồi phục và các triệu chứng bắt đầu cải thiện.
Hội chứng này cũng có thể gây tử vong. Trong một số trường hợp, bệnh gây ra suy thận vĩnh viễn.
– Ca bệnh xác định: Dựa vào tìm kháng thể đặc hiệu bằng phản ứng miễn dịch gắn enzym ELISA, miễn dịch huỳnh quang, Western Blot hay RT – PCR. Hầu hết bệnh nhân có kháng thể IgM trong thời gian nằm viện. Sự có mặt của protein niệu, tăng bạch cầu, máu đặc, tiểu cầu giảm, tăng u rê huyết là những dấu hiệu cận lâm sàng giúp cho chẩn đoán. Để phân lập, người ta thường cấy Hantavirus trên tế bào VERO-E6.
– Chẩn đoán phân biệt: Với các bệnh có sốt và xuất huyết khác.

1.2. Xét nghiệm
– Loại mẫu bệnh phẩm.
+ Thu thập mẫu từ bệnh nhân: Hantavirusthường được lấy từ huyết thanh hay máu toàn phần của bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng điển hình từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 9 sau khi sốt. Ngoài ra, có thể lấy nước bọt, phân và nước tiểu của bệnh nhân để phân lập.
+ Thu thập ổ chứa vi rút.
Từ máu: Apodemus agrarius coreae,
Phổi, lách: Clethrionomys glareolus,
Thận:Rattus norvegicus, Rattus rattus hoặc từ chuột nuôi trong phòng thí nghiệm.
– Phương pháp xét nghiệm
+ Kỹ thuật kháng thể miễn dịch huỳnh quang (IFA – Immunofluorescent Antigen Technique).
+ Kỹ thuật miễn dịch enzyme (Enzyme Linked Immunosorbant Assay – ELISA): Kỹ thuật miễn dịch enzyme phát hiện kháng thể IgG (GAC – ELISA) với độ nhạy 95% để chẩn đoán bệnh Hantan vi rút một cách đặc hiệu và nhanh chóng.
+ Kỹ thuật ngăn ngưng kết hồng cầu (Haemaglutinin Inhibition tests). Đây là kỹ thuật tương đối nhạy cảm và đòi hỏi ít trang bị đắt tiền như: kính hiển vi huỳnh quang, các kháng thể …
+ Kỹ thuật trung hoà giảm đám hoại tử (Plaque Reduction Neutralization Test – PRNT): Đây là một kỹ thuật có thể thực hiện dễ dàng với độ nhạy cảm cao.
+ Kỹ thuật Western Blot: Nhằm khẳng định trong chẩn đoán sốt xuất huyết hội chứng thận dựa vào đó cũng có thể phân lập được týp kháng nguyên gây nên sốt xuất huyết hội chứng thận trên bệnh nhân và chuột.
+ Chẩn đoán Hantavirus bằng kính hiển vi điện tử: Đây là một phương pháp hữu hiệu, nhạy và nhanh trong việc quan sát virus. Hantavirus hơi khác virus khác ở chỗ sự nhân lên của nó chậm và vắng mặt hình thái tế bào gây nhiễm.
+ Chẩn đoán Hantavirrus bằng kỹ thuật RT – PCR

2. Đối tượng mắc bệnh
Bệnh thường thấy ở người lớn, nhóm tuổi từ 20 đến 50. Hiếm khi gặp ở trẻ em dưới 10 tuổi và những người già. Tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới cao hơn nữ giới. Nhóm đối tượng có nguy cơ cao là:
– Nông dân có công việc thường xuyên ở ngoài đồng
– Người làm công tác trong phòng thí nghiệm,
– Công nhân nuôi động vật thí nghiệm,
– Công nhân chăn nuôi,
– Người làm việc tại phòng thí nghiệm giám sát chuột,
– Các nhà sinh vật học,
– Người lính,
– Thợ săn và những người hay đi cắm trại.

Không có mô tả ảnh.

3. Nguồn truyền nhiễm
– Ổ chứa: Kháng nguyên Hantavirus có thể tìm thấy trong 16 loài chuột khác nhau ở Trung Quốc và Liên bang Nga. Những ổ chứa virus không mang bệnh nhưng chúng tiết ra virus qua nước tiểu và nước bọt trong thời gian dài. Phổi của vật chủ chứa lượng virus lớn hơn các bộ phận khác.
– Thời gian ủ bệnh: Thời gian ủ bệnh thông thường từ 2 tới 3 tuần; Nhiều trường hợp có thể kéo dài từ 4 ngày tới 42 ngày.
– Thời kỳ lây truyền: Từ 3 đến 6 ngày đầu của bệnh khi sốt đang cao; Sau đó, lượng virus được đào thải tiếp từ ngày thứ 7 đến ngày thứ 14 khi bệnh nhân đang ở giai đoạn bí tiểu và đa niệu

4. Phương thức lây truyền
– Hantanvirus lan truyền nhờ chuột. Các chất thải loại như: nước bọt ít nhất 1 lần/tháng; Còn nước tiểu hoặc phân thì quanh năm, virus thường được lan truyền qua không khí. Đó là nguồn lan truyền theo đường nằm ngang của Hantavirus trên chuột Apodemus. Chuột nhà, chuột cống và chuột thí nghiệm sẽ nhiễm virus này trong vòng từ 1 đến 2 tuần rồi truyền tiếp qua người. Hiện nay, chưa có bằng chứng về việc lan truyền Hantavirus qua động vật chân khớp hoặc giữa người với người.
– Chu kỳ truyền bệnh của Hantavirus : Trong thiên nhiên (ổ dịch tiên phát), Hantavirus tồn tại trong chuột và do tiếp xúc. Sự lan truyền virus này sang chuột sống lẫn trong cộng đồng dân cư (ổ dịch thứ phát) do gặp thời cơ và do con người tiếp xúc với các chất thải có Hantavirus, gây dịch cho người.

5. Tính cảm nhiễm và miễn dịch:
Những người không có bằng chứng huyết thanh học về nhiễm virus trong quá khứ, có lẽ đều có tính cảm nhiễm. Có thể nhiễm virus thể ẩn, hiện y văn cũng chưa đề cập đến liệu đã có nhiễm vi rút thể ẩn thì còn có khả năng mắc bệnh lần thứ hai hay không.

6. Các biện pháp phòng – chống:
6.1. Biện pháp dự phòng
– Tuyên truyền, giáo dục sức khỏe cho mọi đối tượng, nhất là các nhà nghiên cứu khoa học có liên quan đến động vật gậm nhấm, công nhân lâm nghiệp, bộ đội biên phòng, nông dân nên tránh xa nguồn lây lan Hantavirus là chuột.
– Vệ sinh phòng bệnh: Ngủ màn, tránh tiếp xúc với động vật gậm nhấm.
– Lọai trừ và không để gặm nhấm tấn công vào nhà.
– Ngăn ngừa không cho loài gặm nhấm xâm phạm thức ăn của người và gia súc.
– Khử khuẩn các vùng có loài gậm nhấm nhiễm bệnh bằng phun hóa chất khử khuẩn trước khi làm sạch. Không quét và hút bụi ở nơi có chuột mà nên dùng khăn tẩm hóa chất để lau.
– Đánh bẫy loài gặm nhấm với những biện pháp thích hợp. Không nên dùng phương pháp bẫy sống.
– Trong vùng có bệnh lưu hành ở động vật, hạn chế tới mức tối thiểu việc tiếp xúc với các loài gặm nhấm hoang dại và các chất thải của chúng.

Trong hình ảnh có thể có: văn bản

7. Điều trị
7.1. Nguyên tắc điều trị
+ Chẩn đoán sớm, nếu nghi ngờ cần đưa vào bệnh viện để cách ly.
+ Quan sát những đối tượng có mối quan hệ gần đối với bệnh nhân
+ Cẩn thận tránh lây nhiễm khi tiếp xúc với bệnh nhân

7.2. Điều trị tích cực
Ngăn chặn một cách nghiêm ngặt.
– Cho đến bây giờ vẫn không có thuốc để chữa trị sốt xuất huyết hội chứng thận. Trước đây và hiện nay, người ta vẫn dùng Ribavirin để điều trị
– Phải theo dõi chặt chẽ và nhanh chóng để phòng các biến chứng chung và cần phải điều trị ngay như:
+ Hội chứng tiểu cầu thẩm tách màng bụng (chiếm 1% – 3% ca bệnh)
+ Bội nhiễm vi khuẩn hoặc nhiễm nấm cần phải dùng thuốc kháng sinh.
+ Trường hợp mất nước nhiều cần phải truyền dịch.
Các dấu hiệu khác như: Đau đầu, đau lưng, đau bụng, nôn mửa, khó chịu trong các bộ phận của cơ thể cần thuốc làm mất cảm giác đau, thuốc trị co thắt, hay thuốc an thần, thuốc ngủ (chiếm tới 50 – 70% ca bệnh)

8. Biện pháp chống dịch
8.1. Chuyên môn:
+ Thu dung, cách ly, điều trị bệnh nhân.
+ Quản lý người lành mang vi rút, người tiếp xúc
+ Dự phòng cho đối tượng nguy cơ cao (thuốc, vaccine)
+ Xử lý môi trường: Phun hóa chất, tổng vệ sinh, diệt chuột bằng các biện pháp thích hợp.

8.2. Kiểm dịch y tế biên giới:
– Giám sát sự vận chuyển các loài gặm nhấm là ổ chứa virus ngoại lai.
– Tổ chức diệt chuột trên máy bay, các đoàn tàu hỏa hay tầu biển trước khi vào Việt Nam.

Ths.Bs.Trương Tản Viên

Bài viết liên quan