TĂNG ĐỘNG – GIẢM CHÚ Ý Ở TRẺ EM

Tăng động – giảm chú ú ở trẻ em

1. ĐẠI CƯƠNG
– Rối loạn tăng động giảm chú ý (Attention-deficit hyperactivity disorder – ADHD) là một nhóm những triệu chứng về hành vi bao gồm những biểu hiện giảm tập trung chú ý, tăng động quá mức, xung động thiếu kiềm chế, khởi phát trước 7 tuổi và có xu hướng tiến triển kéo dài.
– Căn bệnh gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng học tập và gây khó khăn trong quan hệ với mọi người.
– Theo thống kê cứ 100 trẻ thì có từ 3 đến 5 trẻ mắc rối loạn này với một số triệu chứng bắt đầu trước tuổi lên 7.
– Tỷ lệ trên toàn cầu cho trẻ em vào khoảng 5% và thay đổi trong biên độ tương đối rộng do còn tùy thuộc vào phương pháp tiến hành trong nghiên cứu.
– Lứa tuổi hay mắc là từ 8 đến 11, bé trai có khả năng mắc cao gấp 3 lần bé gái, khi trưởng thành bệnh có xu hướng giảm, ở tuổi 20 tỉ lệ mắc còn chừng 1% và ở tuổi trung niên là 0,5%.
– Rối loạn tăng động giảm chú ý gặp ở 2 – 10% trẻ em lứa tuổi tiểu học, trẻ trai bị nhiều hơn trẻ gái.

tăng động-giảm chú ý ở trẻ em

tăng động-giảm chú ý ở trẻ em

II. BỆNH NGUYÊN YẾU TỐ THUẬN LỢI
2.1. Nguyên nhân gây bệnh:
– Do tổn thương năo.
– Yếu tố di truyền.
– Yếu tố môi trường sống bất lợi như gia đình sống chật chội đông người, cách giáo dục trẻ không đúng.
– Ngoài ra, các yếu tố sau đây được cho là cũng có thể gây tăng động – giảm chú ý ở trẻ:
+ Rối loạn thị lực không được chữa trị: Trẻ bị những rối loạn ở mắt ảnh hưởng đến thị lực hoặc chuyển động mắt dễ bị ADHD hơn so với những trẻ có mắt khỏe mạnh. Một nghiên cứu được đăng trên tờ American Academy of Optometry chỉ ra rằng 15% trẻ bị rối loạn thị lực bị ADHD.
+ Chấn thương sọ não: Các nhà nghiên cứu cho biết những người có tiền sử bị chấn thương sọ não có nguy cơ bị các triệu chứng ADHD gấp hai lần. Mặc dù ADHD bắt đầu từ thời thơ ấu nhưng vẫn có khả năng rối loạn này kéo dài đến khi trưởng thành.
+ Lạm dụng trẻ em: Những người bị ADHD cho biết họ từng bị lạm dụng thể chất khi còn nhỏ nhiều gấp hai lần so với những người không bị ADHD.
+ Chế độ ăn nhiều chất béo: Các nhà nghiên cứu đã liên hệ chế độ ăn nhiều chất béo với các triệu chứng ADHD như mất tập trung, tăng động, bốc đồng thời thơ ấu.
+ Sinh non: Do chưa phát triển đầy đủ, trẻ sinh non có nguy cơ cao bị các rối loạn lo âu và ADHD. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cho biết nguy cơ trẻ sinh non bị ADHD ở thời thơ ấu hoặc thậm chí khi trưởng thành là rất thấp. Chỉ có 8/84 người lớn từng bị sinh non được chẩn đoán bị ADHD.
+ Stress trong thai kỳ: Kiểm soát chặt chẽ stress trong thai kỳ vì các nghiên cứu chỉ ra mối liên quan giữa stress ở mẹ trước khi sinh với các rối loạn về phát triển hành vi thần kinh ở trẻ. Điều này có nghĩa những đứa trẻ được sinh ra bới các bà mẹ bị stress trong khi mang thai dễ bị ADHD và thậm chí là tự kỷ.
2.2. Yếu tố thuận lợi:
¬- Môi trường sống không ổn định, ồn ào, đông đúc.
– Gia đình ít quan tâm giáo dục trẻ, cách dạy không thống nhất, phương pháp dạy chưa đúng: Nặng về trừng phạt hoặc quá chiều chuộng trẻ, xem ti vi, chơi điện tử nhiều.

III. CƠ CHẾ BỆNH SINH
Có một số giả thuyết như sau:
– Rối loạn sinh hóa năo: một số nghiên cứu nhận thấy có sự giảm hấp thu glucose trong năo ở người bị tăng động giảm chú ý.
– Bất thường về cấu trúc năo: Nghiên cứu cho thấy trẻ tăng động giảm chú ý có sự bất thường về mối liên hệ giữa thùy trán, thùy thái dương, nhân đuôi và tiểu năo.

IV. LÂM SÀNG
4.1. Các dấu hiệu giảm tập trung chú ý thường gặp (09 dấu hiệu):
– Không chú ý vào chi tiết hoặc mắc lỗi cẩu thả với công việc được giao.
– Khó khăn khi phải duy trì chú ý vào nhiệm vụ/hoạt động.
– Dường như không chú ý nghe khi hội thoại.
– Không tuân theo hướng dẫn và không hoàn thành nhiệm vụ/bài vở (không phải do chống đối hoặc không hiểu).
– Khó khăn trong tổ chức nhiệm vụ/hoạt động.
– Né tránh, không thích hoặc miễn cưỡng tham gia các công việc đòi hỏi sự nỗ lực trí tuệ.
– Mất những đồ dùng cần thiết trong công việc/học tập.
– Dễ bị sao nhăng bởi những kích thích bên ngoài.
– Đãng trí trong các hoạt động hàng ngày.
4.2. Các dấu hiệu tăng hoạt động, thiếu kiềm chế (09 dấu hiệu):
– Có 6 dấu hiệu tăng hoạt động:
+ Cựa quậy chân tay hoặc vặn vẹo, ngồi không yên.
+ Ra khỏi chỗ ngồi ở những nơi cần phải ngồi yên.
+ Chạy hoặc leo trèo quá mức ở những nơi cần phải ngồi yên.
+ Khó khăn khi chơi hoặc tham gia vào các hoạt động tĩnh.
+ Hoạt động luôn chân luôn tay hoặc hành động như thể được “gắn động cơ”.
+ Nói quá nhiều.
– Có 3 dấu hiệu của sự xung động thiếu kiềm chế:
+ Bột phát trả lời khi người khi người khác chưa hỏi xong.
+ Khó khăn khi chờ đợi đến lượt ḿnh.
+ Ngắt quăng hoặc chen ngang vào công việc/cuộc hội thoại của người khác.
V. XÉT NGHIỆM
– Cũng như rối loạn tự kỷ, không có xét nghiệm nào cho thấy hoặc gợi ý trẻ có dấu hiệu bị tăng động – giảm chú ý.
– Tuy nhiên, một số xét nghiệm như chụp CT – Scanner, MRI sọ não, định lượng một số hormone, vi chất có thể là cần thiết để giúp cho chẩn đoán phân biệt vì dụ như cơn hưng cảm, cơn hoảng loạn …

VI. CÁC TRẮC NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ TRẺ TĂNG ĐỘNG – GIẢM CHÚ Ý
– Trắc nghiệm tâm lý đánh giá khả năng trí tuệ (chỉ số IQ) cho trẻ trên 06 tuổi thông qua test Raven, Gille, vẽ hình người, WISC; đối với trẻ dưới 06 tuổi đánh giá sự phát triển tâm vận động bằng test Denver II, Baley.
– Trắc nghiệm tâm lý đánh giá hành vi cảm xúc của trẻ bằng bảng liệt kê hành vi của trẻ em Achenbach (CBCL), thang tăng động giảm chú ý của Vanderbilt. Thang Vanderbilt gồm có 04 phần để đánh giá mức độ giảm chú ý, tăng động xung động, rối loạn hành vi chống đối và cảm xúc, với phiên bản dành cho giáo viên và cha mẹ.
– Một số trẻ lớn có thể làm thêm test tâm lý khác để đánh giá các rối loạn hành vi- cảm xúc đi kèm.
– Một số test và trắc nghiệm sẽ được giới thiệu chi tiết ở các bài tiếp theo.

VII. CHẨN ĐOÁN
7.1. Chẩn đoán xác định:
– Trẻ cần được khám xét toàn diện, hỏi tiền sử bệnh sử để tìm hiểu nguyên nhân và quá trình diễn biến và cách ứng phó của gia đình khi nhận thấy trẻ bị tăng động giảm chú ý.
– Cần quan sát hành vi của trẻ ở một số hoàn cảnh khác nhau như khi trẻ chơi, cách trẻ hoạt động.
– Chẩn đoán xác định dựa theo tiêu chuẩn của ICD – X kết hợp với DSM – IV:
+ Trẻ phải có ít nhất là 06 dấu hiệu của giảm chú ý và 06 dấu hiệu của tăng động xung độn
+ Các dấu hiệu này khởi phát trước 07 tuổi
+ Thời gian bị rối loạn kéo dài trước đó ít nhất là 06 tháng
+ Các dấu hiệu phải xảy ra trong hoặc trên hai hoàn cảnh, địa điểm khác nhau (ở nhà, ở trường …).
– Có một số rối loạn khác thường đi kèm với tăng động giảm chú ý là:
+ Rối loạn chống đối
+ Rối loạn tic
+ Rối loạn hành vi cảm xúc
+ Khó khăn về đọc, về viết
+ Tật chứng về nói
+ Nghiện chơi điện tử.
– Phân loại bệnh:
+ Thể tăng động xung động chiếm ưu thế.
+ Thể giảm chú ý chiếm ưu thế.
+ Thể kết hợp: Trẻ có cả tăng động và giảm tập trung chú ý.
7.2. Chẩn đoán phân biệt:
– Rối loạn thách thức chống đối.
– Rối loạn phát triển lan tỏa
+ Khó khăn về học
+ Động kinh thùy thái dương
+ Động kinh cơn vắng ý thức
+ Rốii loạn stress sau sang chấn
+ Chậm phát triển
+ Lo âu
+ Trầm cảm
+ Giảm thính lực
+ Một số bệnh lý thực thể ảnh hưởng tới chức năng năo.

VIII. ĐIỀU TRỊ
– Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà chuyên môn với gia đình và nhà trường.
8.1 Liệu pháp hóa dược:
– Điều trị kết hợp thuốc với liệu pháp tâm lý đối với những trẻ quá tăng động.
– Thuốc sử dụng ưu tiên theo thứ tự: kích thích hệ thần kinh trung ương:
+ Amphetamine, Methylphenidate (Concerta, Ritalin…) là những thuốc lựa chọn ưu tiên cho những trường hợp có biểu hiện kém tập trung;
+ Atomoxetin, guanfacine, clonidin tác dụng kéo dài ít có tác dụng cải thiện khả năng tập trung, chủ yếu nhằm giảm các hành vi tăng động.
+ Có thể dùng phối hợp với thuốc kích thích thần kinh.
* Nhóm Norepinephrine Reuptake Inhibitor: Atomoxetin
* An thần kinh: Risperidone liều thấp (0,05 – 0,1 mg/kg/ngày).
* Thuốc chống trầm cảm 3 vòng: Amitriptilin.
* Clonidin liều thấp.
* Các vitamin và một số yếu tố vi lượng: Chưa có chứng cứ.
8.2. Liệu pháp tâm lý:
– Liệu pháp hành vi nhận thức:
+ Giải thích cho trẻ hiểu việc cần làm, chia nhỏ các bước của nhiệm vụ và hướng dẫn trẻ cách làm.
+ Khen thưởng khi trẻ tiến bộ để củng cố hành vi tốt.
+ Lắng nghe trẻ giải thích lý do và chỉ cho trẻ biết trẻ đă sai ở chỗ nào và tìm cách khắc phục.
+ Những hành vi sai vẫn tái phạm cần nghiêm khắc hơn với trẻ như phạt bằng thời gian tách biệt, không được hưởng quyền lợi.
+ Cha mẹ cần có thái độ mềm mỏng nhẹ nhàng nhưng kiên quyết. Tránh đánh mắng trừng phạt trẻ sẽ làm cho rối loạn nặng thêm.
– Huấn luyện nếp sống và các kỹ năng xă hội.
– Tư vấn gia đình.
– Các bài tập tâm vận động nhằm giúp trẻ lập kế hoạch vận động phù hợp.
– Chơi trị liệu phù hợp giúp trẻ giải tỏa căng thẳng, tập luyện tính kiên trì, học cách tổ chức và ứng xử với bạn trong khi chơi. Đi bộ, tập thư giăn giúp trẻ giảm mức độ tăng hoạt động.
– Trị liệu nhóm.

IX. TIẾN TRIỂN VÀ TIÊN LƯỢNG
– Những trẻ tăng động giảm chú ý có tiên lượng tốt hơn nếu không có các rối loạn khác, gia đình có nhận thức tốt về rối loạn này. Tuân thủ điều trị, không có khó khăn về học đi kèm, IQ > 70.
– Nếu trẻ không được quan tâm đúng mức và can thiệp sớm, đến tuổi vị thành niên vấn đề trở nên rất khó khăn do trẻ thất bại trong học tập, rối loạn các mối quan hệ với bạn bè và người xung quanh, trẻ kém tự tin, mặc cảm hoặc nhiễm các thói hư tật xấu, nghiện hút, đua xe, hành vi chống đối xă hội.
– Có trên 30% trẻ vẫn có các triệu chứng tăng động giảm chú ý ở tuổi trưởng thành, có nhiều khó khăn trong học tập, dễ xung đột với người xung quanh. Do vậy việc phát hiện, điều trị và can thiệp sớm rối loạn này là rất cần thiết.

X. PHÒNG BỆNH
– Mẹ có thai không được hút thuốc, uống rượu, giữ ǵn sức khỏe.
– An toàn thai sản.
– Môi trường sống an toàn, ổn định, tránh nhiễm độc nhiễm trùng.
– Luôn quan tâm dạy dỗ trẻ phù hợp theo lứa tuổi.
– Kiểm tra sự phát triển tâm lư của trẻ, nếu thấy trẻ hiếu động nên cho đi khám và đánh giá tâm lý.

Bài viết liên quan