Tin tức

VIÊM PHỔI TĂNG BẠCH CẦU ÁI TOAN

ĐỊNH NGHĨA
Viêm phổi tăng bạch cầu ái toan là một dạng viêm phổi thường gặp có biểu hiện thâm nhiễm phổi và tăng bạch cầu ái toan trong dịch rửa phế quản và nhu mô phổi. Điều quan trọng là thỉnh thoảng mới có biểu hiện tăng bạch cầu ái toan trong máu ngoại vi. Viêm phổi tăng bạch cầu ái toan bao gồm bệnh cảnh cấp tính và mạn tính (bệnh tự phát với bệnh cảnh sốt, ho và khó thở), hội chứng Loffler (kèm tăng bạch cầu ái toan máu, thâm nhiễm phổi thoáng qua do ấu trùng giun sán di chuyển thường là giun đũa) và viêm phổi tăng bạch cầu ái toan nhiệt đới (tăng nhạy cảm đáp ứng phổi đối với giun chỉ trong mạch bạch huyết). Bệnh có thể diễn biến từ nhẹ đến nặng với các triệu chứng chung như ho, sốt, khò khè, khó thở, sụt cân … thậm chí có thể suy hô hấp.

NGUYÊN NHÂN:
Có nhiều nguyên nhân gây bệnh viêm phổi tăng bạch cầu ái toan: Hầu hết các trường hợp bệnh phổi tăng bạch cầu ái toan đơn thuần là do nhiễm ký sinh trùng (đặc biệt là Ascaris lumbricoides) hoặc thuốc. Tuy nhiên, 1/3 số bệnh nhân không xác định được nguyên nhân.
– Các loại ký sinh trùng gây tăng bạch cầu ái toan:
• Ascaris lumbricoides (nguyên nhân gây bệnh phổ biến nhất)
• Ascaris suum
• Necator americanus
• Strongyloides stercoralis
• Ancylostoma braziliense
• Ancylostoma caninum
• Ancylostoma duodenale
• Toxocara canis
• Toxocara cati
• Entamoeba histolytica
• Fasciola hepatica
• Dirofilaria immitis
• Clonorchis sinensis
• Paragonimuswestermani
– Các thuốc gây tăng bạch cầu ái toan:
• Các thuốc kháng sinh: Dapsone, ethambutol, isoniazid, nitrofurantoin, penicillin, tetracycline, clarithromycin, pyrimethamine, daptomycin.
• Các thuốc chống co giật: Carbamazepines, phenytoin, acid valproic, ethambutol.
• Các thuốc chống viêm và các thuốc điều hòa miễn dịch: Aspirin, azathioprine, beclomethasone, cromolyn, vàng, methotrexate, naproxen, diclofenac, fenbufen, ibuprofen, phenylbutazone, piroxicam, tolfenamic axit.
• Các thuốc khác: Bleomycin, captopril, chlorpromazine, yếu tố kích thích nhóm bạch cầu hạt – đại thực bào, imipramin, methylphenidate, sulfasalazine, sulfonamides.

LÂM SÀNG:
Đặc trưng chủ yếu của bệnh là sự tăng bạch cầu ái toan tập trung ở dịch rửa phế quản, tổ chức nhu mô phổi, nhưng tăng rất ít trong máu ngoại vi. Do vậy, bệnh thường được nghĩ đến khi có phối hợp thêm triệu chứng nhiễm giun sán trên một nền bệnh lý viêm phổi, đôi khi bệnh nhân có kèm theo gan, lách, hạch to và đau cơ.

CẬN LÂM SÀNG:
– Xét nghiệm máu: Bạch cầu ái toan thường ít tăng hoặc tăng nhẹ.
– Xét nghiệm dịch rửa phế quản: Có sự hiện diện của bạch cầu ái toan.
– Mô bệnh học: Xuất hiện bạch cầu ái toan trên tiêu bản mô bệnh học.
– Các xét nghiệm khác nên làm bao gồm:
+ X – quang tim phổi thẳng: Có thể thấy các nốt thâm nhiễm ở nhu mô phổi
+ Siêu âm ổ bụng: Đôi khi có thể thấy xác giun hoặc giun còn sống.
+ Soi phân tìm trứng giun sán: Đôi khi có thể bắt gặp.
+ MRI, CT-Scanner, Elisa …

ĐIỀU TRỊ:
Điều trị viêm phổi tăng bạch cầu ái toan không khó, thường khi tìm được nguyên nhân nào thì sẽ tiến hành điều trị theo nguyên nhân đó: Cho bệnh nhân tẩy giun nếu nghĩ đến do giun sán (một số loài giun sán có giai đoạn ấu trùng di chuyển như giun đũa – gây hội chứng Loffler), dừng các loại thuốc đang uống nếu nghi do thuốc. Trường hợp chưa xác đinh được nguyên nhân, điều trị thử bằng Erythromycin và Corticosteroid cho thấy có hiệu quả tốt.

Không có mô tả ảnh.

PHÒNG BỆNH:
+ Chỉ sử dụng các loại thuốc theo chỉ dẫn của bác sỹ, nếu thấy có biểu hiện sốt, ho, khò khè, khó thở … cần đi khám lại ngay và mang theo đơn thuốc đang dùng để bác sỹ đối chiếu.
+ Giữ gìn vệ sinh cá nhân, “ăn chín – uống sôi”, không ăn rau sống, không để trẻ em nghịch đất cát hay lê la, rửa tay sạch trước khi chế biến món ăn, trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh.
+ Tẩy giun sán định kỳ khi trẻ từ 02 tuổi trở lên.

Ths.Bs.Trương Tản Viên

Bài viết liên quan