VIÊM TÚI MẬT

Viêm túi mật

I. ĐẠI CƯƠNG
– Túi mật là một cơ quan nhỏ hình quả lê ở phía bên phải của bụng, ngay dưới gan. Túi mật giữ chất lỏng gọi là mật tiêu hóa tiết vào ruột non.
– Túi mật giữ chất lỏng được gọi là mật, phát hành sau khi ăn, đặc biệt là sau khi ăn thực phẩm giàu chất béo để hỗ trợ tiêu hóa.
– Mật đi ra khỏi túi mật thông qua một ống nhỏ gọi là ống nang, đến ống khác gọi là ống mật và sau đó vào ruột non.
– Trong nhiều trường hợp, viêm túi mật là do sỏi mật và các ống dẫn ra khỏi túi mật. Kết quả là sự tích tụ mật có thể gây ra viêm. Nguyên nhân khác gây viêm túi mật bao gồm nhiễm trùng, chấn thương và các khối u.
– Nếu không chữa trị, viêm túi mật có thể dẫn đến biến chứng nghiêm trọng, chẳng hạn như tổn thương mô, chảy máu trong túi mật và nhiễm trùng lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể.
– Sau khi chẩn đoán viêm túi mật đòi hỏi ở lại bệnh viện. Điều trị cuối cùng viêm túi mật thường bao gồm cắt bỏ túi mật.

viêm túi mật

viêm túi mật

II. BỆNH NGUYÊN – YẾU TỐ NGUY CƠ
II.1. Nguyên nhân gây bệnh:
– Viêm túi mật có thể xảy ra đột ngột (viêm túi mật cấp tính), hoặc có thể phát triển chậm theo thời gian (viêm túi mật mãn tính).
– Nguyên nhân của viêm túi mật bao gồm:
+ Sỏi mật: Phần lớn các trường hợp viêm túi mật là kết quả của sỏi mật.
+ Thương tích: Tổn thương túi mật, đặc biệt là chấn thương xảy ra như là kết quả của chấn thương bụng hoặc phẫu thuật có thể gây ra viêm túi mật.
+ Nhiễm trùng: Nhiễm trùng trong mật có thể dẫn đến viêm túi mật.
+ Khối u: Một khối u có thể ngăn mật thoát ra khỏi túi mật, gây tích tụ mật và có thể dẫn đến viêm túi mật.
+ Tắc ống túi mật do ung thư, xơ hóa, gập góc hay tắc ở ống mật chủ.
+ Hẹp cơ vòng Oddi hay u nhú bong Vater.
II.2. Yếu tố nguy cơ
– Các yếu tố sau đây có thể làm tăng nguy cơ viêm túi mật:
+ Sỏi mật: Hầu hết các trường hợp viêm túi mật liên kết đến sỏi mật. Nếu có sỏi mật, đang có nguy cơ cao phát triển viêm túi mật.
+ Lao động nặng kéo dài sau sinh: Lao động nặng kéo dài có thể gây hại cho túi mật, tăng khả năng phát triển viêm túi mật trong những tuần sau khi sinh.
+ Chấn thương: Chấn thương bụng nghiêm trọng có thể làm tăng nguy cơ viêm túi mật.
+ Bệnh tiểu đường: Các biến chứng của bệnh tiểu đường có thể ảnh hưởng đến túi mật và tăng nguy cơ phát triển viêm túi mật.
+ Thương hàn, nhiềm trùng huyết.
+ Nhiễm E. Coli ở phụ nữ có thai.

III. LÂM SÀNG
– Các dấu hiệu và triệu chứng của viêm túi mật có thể bao gồm:
+ Đau ở phần trên bên phải của bụng, nếu không được điều trị, có thể tăng dần vài giờ hoặc vài ngày và đau tăng khi hít thở sâu.
+ Đau lan từ bụng đến vai phải.
+ Đau tức bụng khi chạm vào.
+ Đổ mồ hôi.
+ Buồn nôn và nôn.
+ Ăn mất ngon.
+ Sốt.
+ Ớn lạnh.
+ Bụng đầy hơi.
– Dấu hiệu và triệu chứng viêm túi mật thường xảy ra sau bữa ăn, đặc biệt là một bữa ăn lớn hay bữa ăn nhiều chất béo.
– Viêm túi mật tự nó không phải là một cấp cứu nhưng nếu không được điều trị, viêm túi mật có thể dẫn đến nghiêm trọng, biến chứng đôi khi đe dọa mạng sống.
– Viêm túi mật thường đòi hỏi phải nhập viện.
IV. CẬN LÂM SÀNG
– Trước một bệnh nhân nghi ngờ viêm túi mật, các xét nghiệm cần được chỉ định bao gồm:
+ Xét nghiệm công thức máu: Có sự tăng lên của bạch cầu đa nhân trung tính.
+ Xét nghiệm sinh hóa máu chức năng gan (GOT, GPT), chức năng tụy (Amylase, lipase), bilirubin toàn phần – trực tiếp – gián tiếp.
+ Xét nghiệm dịch mật qua chọc hút dịch mật xuyên giường túi mật.
+ Siêu âm ổ bụng thường quy.
+ Xquang ổ bung
+ Chụp MRI hoặc CT Scanner ổ bụng.
+ Chụp nhấp nháy HIDA.
+ Xét nghiệm virus viêm gan B (HBsAg; HBeAg …); virus viêm gan C (Anti – HCV, HCV – RNA …)
+ Xquang ngực thẳng.
+ Siêu âm tim.

hình ảnh chụp X quang viêm túi mật

hình ảnh  siêu âm viêm túi mật

V. CHẨN ĐOÁN
5.1. Chẩn đoán phân biệt:
– Viêm loét dạ dày – tá tràng.
– Bệnh động mạch vành: Nhồi máu hoặc thiếu máu cơ tim.
– Viêm tụy cấp
– Viêm ruột thừa
– Cơn đau quặn thân phải.
– Viêm phần phụ bên phải của phụ nữ
– Chửa ngoài tử cung bên phải
5.2. Chẩn đoán xác định:
– Thường khó khăn do chỉ khoảng 30% bệnh nhân có các dấu hiệu đặc trưng.
– Chẩn đoán dựa chủ yếu vào
+ Lâm sàng có thể có hội chứng nhiễm trùng nhiễm độc: Sốt cao – rét run.
+ Cận lâm sàng: Có tăng bạch cầu đa nhân trung tính, siêu âm bụng có hình ảnh ứ dịch túi mật hoặc dày thành túi mật.

VI. ĐIỀU TRỊ
6.1. Nguyên tắc chung:
– Viêm túi mật nên được điều trị và theo dõi tại các cơ sở y tế.
– Khi đang ở trong bệnh viện, bệnh nhân có thể không được phép ăn hoặc uống, và có thể được nuôi ăn qua đường tĩnh mạch (IV).
– Nếu bệnh nhân đau nhiều, bác sĩ có thể cho uống thuốc giảm đau và kháng sinh để chống nhiễm trùng.
6.2. Điều trị ngoại khoa:
– Viêm túi mật có nguy cơ tái phát thường xuyên, do đó hầu hết bệnh nhân được chẩn đoán viêm túi mật cuối cùng cần phẫu thuật loại bỏ túi mật.
– Nếu có các biến chứng của viêm túi mật, chẳng hạn như hoại tử hoặc thủng túi mật, có thể cần phải phẫu thuật ngay lập tức.
– Nếu có nhiễm trùng, có thể cần thủ thuật dẫn lưu túi mật qua giường túi mật để lấy dịch nhiễm trùng ra.
– Nếu không có biến chứng, bác sĩ có thể chỉ định phẫu thuật trong vòng vài ngày hoặc vài tuần, tùy theo tình hình.
– Hiện nay cắt túi mật nội soi vẫn được coi là phương pháp tối ưu nhất.
– Khi túi mật được lấy ra, mật chảy trực tiếp từ gan vào ruột non thay vì được lưu trữ trong túi mật.
– Không cần túi mật để sinh sống, và loại bỏ túi mật không ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa thức ăn, mặc dù nó có thể gây ra tiêu chảy.
6.3. Điều trị nội khoa:
– Bổ sung nước – điện giải qua đường uống và truyền dịch.
– Kháng sinh phổ rộng tập trung vào vi khuẩn kỵ khí và vi khuẩn gram âm như Cephalosporin thế hệ 3, quinolon, aminoglcosid, metronidazole, carbapenem …
– Thuốc ức chế phó giao cảm (ức chế dây X) để giảm co thắt cơ vòng Oddi, giảm tiết acid, giảm co bóp túi mật: Atropin, propanthelin.
– Thuốc giảm tiết acid dịch vị: Các prazol, kháng histamine H2 như Cimetidine, ranitidine …

hình ảnh giải phẩu viêm túi mật

hình ảnh giải phẫu viêm túi mật

VII. BIẾN CHỨNG
– Viêm túi mật có thể dẫn đến một số biến chứng nghiêm trọng, bao gồm:
+ Túi mật căng to: Nếu bị viêm túi mật do ứ mật, sự căng ra và sưng lên vượt quá kích thước bình thường của túi mật có thể gây ra đau và làm tăng nguy cơ thủng túi mật, cũng như nhiễm trùng và hoại tử mô.
+ Nhiễm trùng: Nếu bị ứ trong túi mật, mật có thể bị viêm mủ. Điều này làm tăng nguy cơ chảy máu đường mật và gây lây nhiễm lan rộng theo máu đến các bộ phận khác của cơ thể.
+ Hoại tử: Nếu không điều trị viêm túi mật có thể gây ra hoại tử mô trong túi mật, do đó có thể dẫn đến thủng túi mật, hoặc nó có thể gây ra vỡ túi mật.
+ Thủng: Thủng túi mật có thể gây ra bởi chướng căng túi mật hoặc hoại tử xảy ra như là kết quả của viêm túi mật.

VIII. PHÒNG CHỐNG
– Hầu hết các trường hợp viêm túi mật là do sỏi mật, có thể giảm nguy cơ viêm túi mật bằng cách thực hiện các bước sau đây để ngăn ngừa sỏi mật:
+ Không bỏ bữa: Hãy cố gắng ăn bình thường mỗi ngày. Bỏ bữa ăn hay ăn chay có thể làm tăng nguy cơ sỏi mật.
+ Tập thể dục hầu hết các ngày trong tuần: Hoạt động cơ thể làm giảm thiểu nguy cơ sỏi mật.
+ Giảm cân từ từ: Giảm cân có thể làm giảm nguy cơ sỏi mật.
+ Duy trì trọng lượng khỏe mạnh: Béo phì và thừa cân làm tăng nguy cơ sỏi mật. Cần đạt được trọng lượng lý tưởng bằng cách giảm thiểu lượng calo ăn vào và tăng cường hoạt động thể chất. Khi đạt được trọng lượng mong muốn cần duy trì trọng lượng bằng cách tiếp tục chế độ ăn uống và tập thể dục đều đặn.

Bài viết liên quan