Viêm da
I. VIÊM DA MỦ
– Bình thường trên da có nhiều tạp khuẩn, phần lớn là tụ cầu khuẩn và liên cầu khuẩn, tập trung nhiều nhất ở vùng có nhiều lông, vùng đọng mồ hôi như các nếp kẽ, các lỗ chân lông.
– Trong những điều kiện thuận lợi như cơ thể suy yếu, giảm sức đề kháng, vệ sinh kém, ngứa gãi làm xây sát da nhất là mùa hè nóng nực, da luôn bị ẩm ướt mồ hôi là môi trường thuận lợi cho các vi khuẩn trên tăng sinh, tăng độc tính gây nên bệnh ngoài da gọi chung là viêm da mủ.
– Bệnh viêm da mủ thường chia làm 2 nhóm bệnh do tụ cầu khuẩn và do liên cầu khuẩn gây nên.
1.1. Viêm da mủ do tụ cầu khuẩn
Tụ cầu khuẩn thường gây tổn thương ở nang lông. Có những thể bệnh chính sau:
– Viêm nang lông nông:
+ Viêm nông ở đầu lỗ chân lông.
+ Ban đầu lỗ chân lông hơi sưng đỏ, đau, sau đó thành mụn mủ nhỏ, quanh chân lông có quầng viêm hẹp.
+ Vài ngày sau, mụn mủ khô, để lại một vẩy tiết màu nâu sẫm. Sau cùng vẩy bong đi, không để lại sẹo.
– Viêm nang lông sâu:
+ Quanh nang lông sưng tấy nhiều cụm, quanh lỗ chân lông có mụn mủ.
+ Mụn mủ có thể rải rác hoặc tập trung thành đám đỏ, cứng cộm, gồ ghề, nặn ra mủ.
+ Viêm nang lông sâu ở vùng cằm, gáy, vùng da đầu tiến triển dai dẳng, hay tái phát.
– Nhọt:
+ Nhọt ở lỗ tai rất đau, dân gian còn gọi là “đằng đằng”.
+ Nhọt ở quanh miệng còn gọi là “đinh râu” rất nguy hiểm vì có thể gây tắc tĩnh mạch, nhiễm khuẩn huyết dễ gây tử vong.
+ Hậu bối là một cụm đinh nhọt gặp ở gáy, lưng, mông do tụ cầu vàng có độc tính rất cao, hay gây bệnh ở người già yếu, nghiện rượu, đái tháo đường, ăn uống kém. Khi vỡ mủ có nhiều ngòi lỗ chỗ như tổ o¬ng, có thể có biến chứng nhiễm khuẩn huyết và tử vong.
+ Nhọt bầy là nhiều đinh nhọt mọc liên tiếp hết đợt này đến đợt khác dai dẳng hàng tháng. Thường gặp ở người suy nhược, giảm sức đề kháng.
– Nhọt ổ gà:
+ Viêm nang kèm theo viêm tuyến mồ hôi, tuyến bã ở vùng nách, tạo thành một túi mủ sâu ở bì và hạ bì.
+ Tổn thương nổi thành cục ở vùng nách, ban đầu cứng sau mềm dần, vỡ mủ.
+ Có thể có một hoặc nhiều nhọt ổ gà trong một hố nách. Bệnh thường tiến triển dai dẳng, hay tái phát, nhất là về mùa hè.
1.2. Viêm da mủ do liên cầu khuẩn
Viêm da do liên cầu có nhiều thể bệnh:
– Chốc lây:
+ Trong bệnh chốc, liên cầu thường phối hợp với tụ cầu gây bệnh, trẻ em mắc bệnh nhiều hơn người lớn.
+ Hay gặp ở đầu, cổ, mặt, các chi, từ đó lan ra các chỗ khác, rất dễ lây nên còn gọi là chốc lây.
+ Tổn thương bắt đầu bằng một phỏng nước nhỏ, lùng nhùng hình tròn, có quầng viêm đỏ. Lúc đầu nước trong dần dần thành mủ đục, giai đoạn phỏng nước và phỏng mủ rất ngắn. Sau đó đóng vảy tiết vàng, dưới lớp vảy là một lớp chợt đỏ, nông, không cộm.
+ Chốc thường gây viêm hạch ở vùng lân cận. Trẻ em thường bị chốc đầu thành từng đám, vảy vàng sẫm, dính bết tóc, dưới lớp vẩy da chợt đỏ, rớm nước.
+ Tổn thương chốc rải rác toàn thân, có thể kèm theo sốt, biến chứng viêm cầu thận cấp, phù nề cẳng chân, mi mắt do viêm cầu thận.
+ Điều trị:
* Đắp gạc chấm rửa các dung dịch sát khuẩn.
* Dùng kim sát khuẩn chọc mủ ra cho mủ thấm vào bông, không để mủ dây ra vùng da lành.
* Chấm các loại thuốc sát khuẩn milian xanh methylen 1%, eosin 2% hoặc mỡ chlorocid 1% …
* Cho uống kháng sinh.
+ Tắm rửa tránh kỳ cọ mạnh lên tổn thương.
+ Phòng bệnh tránh lây lan bằng cách không dùng chung quần áo, chăn màn, khăn mặt và các dụng cụ khác với bệnh nhân.
– Chốc loét (Ecthyma):
+ Là thể chốc tổn thương lan sâu đến phần trung bì, thường ở chi dưới, nhất là ở chi có giãn tĩnh mạch.
+ Bệnh thường gặp ở bệnh nhân thiếu dinh dưỡng, vệ sinh kém, có bệnh tiểu đường hoặc nghiện rượu.
+ Khởi đầu như tổn thương chốc, bằng một phỏng nước hoặc một phỏng mủ, sau phỏng mủ vỡ, đóng vảy dày màu vàng sẫm hoặc nâu đen, có vảy thành nhiều lớp đùn cao lên gọi là vảy ốc. Bóc vảy để lại một vết loét đứng thành, nền tái, rớm mủ, ít nụ thịt, quanh vết loét da tái tím, tiến triển dai dẳng, khó lành.
+ Nếu chốc loét nặng lâu ngày có thể thành loét sâu quảng: Loét có ranh giới rõ, hình bầu dục, loét rộng và sâu nền bẩn, tổ chức da xung quanh xơ cứng, màu tái tím, diễn biến rất dai dẳng.
+ Điều trị:
* Rửa vết loét bằng dung dịch thuốc tím 1/4.000, chấm dung dịch nitrat bạc 0.25 – 0.50%, bôi mỡ kháng sinh.
* Cho bệnh nhân uống hoặc tiêm kháng sinh. Dinh dưỡng tốt kết hợp với sử dụng vitamin A, B1, C …
+ Thường gặp chốc loét ở vị trí cẳng chân, cổ chân, nhất là ở chân có giãn tĩnh mạch.
– Hăm kẽ (intertrigo):
+ Bệnh hay gặp ở trẻ em mập mạp hoặc người lớn béo mập, ra mồ hôi nhiều, tổn thương hay gặp ở nếp cổ, kẽ bẹn, kẽ mông, kẽ sau tai, ở rốn, các ngấn da.
+ Nếp kẽ đỏ da, trợt, rớm dịch, phía ngoài thường có viền róc da mỏng, nếu cọ sát, nhiễm bẩn, trợt loét chảy nước, chảy mủ, rất đau rát.
+ Điều trị: Rửa bằng thuốc tím 1/4.000, chấm dung dịch nitrat bạc 0.25%, bôi hồ nước, tránh bôi thuốc mỡ.
+ Trẻ em cần năng tắm rửa, thay tã lót, rắc bột talc, phấn rôm vào các nếp kẽ.
– Chốc mép (Perlech):
+ Hay gặp ở trẻ em, hai kẽ mép bị nứt trợt, rớm dịch, đóng vảy vàng, đau rát, dễ chảy máu, kèm đau hạch dưới hàm.
+ Tổn thương đơn độc hoặc kèm theo các tổn thương khác do liên cầu khuẩn. Hai kẽ mép bị nứt trợt, rớm dịch, đóng vẩy vàng dễ chảy máu, đau rát gây khó ăn, khó uống.
+ Có thể lây do uống chung chén, dùng chung khăn mặt.
+ Thường kèm theo sưng đau hạch dưới hàm.
+ Điều trị: Chấm dung dịch nitrat bạc 0.25%, mỡ kháng sinh.
– Viêm quầng (Erysipelas):
+ Là bệnh nhiễm khuẩn da và dưới da do chủng Streptococcus pyogenes độc tố cao.
+ Bệnh có thể gây tử vong kể cả khi điều trị tại bệnh viện trước đây.
+ Nếu trẻ sơ sinh, người già hoặc bệnh nhân có kèm bệnh khác cũng rất nặng.
+ Thời gian ủ bệnh 2 – 5 ngày, khởi phát sốt cao đột ngột, có khi co giật ở trẻ em, đau đầu, sốt rét và nôn. Da vùng bệnh cảm thấy căng, ngày thứ hai thấy đỏ, phù, bóng.
+ Đám viêm quầng màu đỏ tươi, từ vài đến hàng chục cm, hơi cao hơn mặt da, nề, cộm, ranh giới rõ, có bờ nhô cao.
+ Đau, nhất là bóp vào thì rất đau.
+ Phù nề mi mắt, sinh dục hoặc ban đỏ có giới hạn rõ, mụn nước ở rìa hoặc có khi là đám phù nề, sưng nóng, đỏ, đau, giới hạn rõ, ở giữa tổn thương là phỏng nước hay bị loét hoại tử.
+ Bệnh nhân sốt cao li bì, hạch gần tổn thương sưng đau.
+ Có thể biến chứng viêm nội tâm mạc, viêm khớp, màng não.
+ Ở trẻ em, tỷ lệ tử vong 50% nếu có biến chứng.
+ Điều trị:
* Chú ý điều trị cả các biến chứng như viêm cầu thận, abces dưới da, nhiễm khuẩn huyết.
* Dùng kháng sinh mạnh ngay từ đầu.
* Lưu ý phối hợp điều trị triệu chứng giảm đau, an thần, vitamin các loại.
1.3. Điều trị và phòng bệnh
– Tùy từng dạng viêm da mủ mà bác sĩ cho thuốc điều trị thích hợp, điều quan trọng khi có những triệu chứng của bệnh cần đến cơ sở y tế thăm khám để phòng biến chứng như viêm cầu thận, nhiễm trùng huyết …
– Không tự ý dùng kháng sinh, thuốc bôi, dán cao, đắp lá … và không được cào xước vùng da bị viêm, không chích nặn những mụn đang viêm tấy, chưa hóa mủ …
– Để phòng bệnh viêm da mủ, phải vệ sinh thân thể sạch sẽ, không nên ăn quá nhiều đồ nóng có hàm lượng đường cao;
– Tăng cường bổ sung vitamin, chế độ ăn nhiều đạm giúp tăng cường sức đề kháng của cơ thể;
– Với trẻ em nên tắm nước chè tươi, sài đất, mướp đắng … có tác dụng phòng viêm da mủ rất hiệu quả.
viêm da
II. VIÊM DA BÃ NHỜN
– Hiện chưa tìm được nguyên nhân.
– Xảy ra ở da cơ thể, mặt hoặc da đầu.
+ Viêm da bã nhờn có thể xuất hiện đầu tiên vào những tháng đầu đời của bé.
+ Các triệu chứng trầm trọng khác nhau tuỳ theo số tháng bị bệnh nhưng thường biến mất vào khoảng 2 tuổi.
+ Tuy nhiên viêm da bã nhờn có thể xuất hiện trở lại sau tuổi dậy thì và sau đó lặp lại theo chu kỳ xuyên suốt cuộc đời.
2.1. Triệu chứng:
– Nổi mẩn lốm đốm có vảy lốm đốm trong các nếp da của vùng bẹn nhưng đôi khi cũng có trên các vùng khác của cơ thể;
– Thỉnh thoảng hơi ngứa;
– Các vảy hơi vàng dầy trên da;
– Các vùng có vảy trên trán, sau tai và trong chân mày có thể kèm theo các vỏ dày này.
2.2. Xử trí:
– Vùng da bị nhiễm phải được giữ sạch bằng dầu gội thay vì xà phòng sẽ làm kích thích da bị mẩn.
– Sau khi làm sạch vùng da bị nhiễm, thoa lên một lớp kem corticoid.
– Làm mảng vảy vàng tự chóc bằng cách xoa nhẹ da đầu của bé bằng dầu em bé hay dầu ôliu và để thấm qua đêm. Hôm sau chải tóc bé để làm tróc các vảy vàng đã mềm rồi gội sạch. Thuốc thoa acid salicylic hoặc dầu gội đầu đặc biệt có bán tại các cửa hàng cũng có thể trị được loại vẩy này.
– Dùng dầu gội đầu đặc biệt cũng như chải tóc bé hằng ngày có thể chặn đứng được hình thành các lớp mảng vảy. Dùng dầu chống gầu tại các cửa hiệu thường cũng rất hữu hiệu để trị bệnh gầu.
– Bé phải được đưa đi bác sĩ nếu nổi mẩn lan rộng hoặc bị nhiễm trùng;
– Da đầu bị viêm, các triệu chứng khác nặng hơn hoặc bệnh không thuyên giảm trong vòng một vài tuần. Bác sĩ sẽ chỉ định kem chứa corticosteroid hoặc dầu gội đầu có chứa kháng sinh hoặc sát trùng.
– Nếu được chữa trị, chỗ nổi mẩn sẽ lan dần trong một vài tuần.
III. HĂM TÃ
– Là một dạng viêm da khá phổ biến, biểu hiện một tình trạng da bị kích thích, có liên quan nhiều đến tình trạng ẩm ướt, hoặc không được thay tã thường xuyên.
– Hăm tã cũng thường thấy ở những trẻ bị tiêu chảy.
– Hăm tã có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng thường gặp nhất ở trẻ từ 8 – 12 tháng tuổi.
3.1. Nguyên nhân
Một số tình trạng sau có thể được xem là thủ phạm gây ra hăm tã:
– Tiếp xúc lâu với phân hoặc nước tiểu, nhất là những bé có làn da nhạy cảm, rất dễ đưa đến hăm tã.
– Thay đổi loại tã mới, dùng các loại khăn ướt sử dụng một lần, các chất tẩy, chất làm mềm vải … có thể là nguyên nhân gây kích thích làn da mỏng manh của bé.
– Mặc tã quá chật, hoặc quần áo cọ sát cũng có thể làm tổn thương da trẻ, tạo điều kiện xuất hiện hăm tã.
– Một số nguyên nhân khác như thay đổi chế độ ăn của trẻ làm trẻ tăng số lần đi cầu, hoặc khi trẻ dùng kháng sinh sẽ làm mất sự cân bằng vi khuẩn trên da, cũng có thể là yếu tố thuận lợi gây ra hăm tã.
– Nhiễm khuẩn hoặc nấm: Vùng da được che chở bởi tã lại là môi trường lý tưởng cho vi khuẩn và nấm phát triển, bởi nó ấm và có độ ẩm cao. Nhiễm khuẩn hoặc nhiễm nấm có thể làm phức tạp thêm tình trạng hăm tã của bé.
3.2. Nhận biết
– Vùng da mặc tã (mông, đùi, bẹn, cơ quan sinh dục) bị đỏ, hơi sưng nề.
– Trẻ có vẻ khó chịu, hay quấy, nhất là khi thay tã hay đụng chạm vào vùng da bị đỏ.
3.3. Điều trị
– Nguyên tắc cơ bản nhất là luôn cố gắng giữ cho da bé sạch và khô.
– Rửa sạch vùng mông, bẹn bằng nước sạch và ấm. Có thể lau nhẹ bằng vải mềm. Không dùng các loại khăn ướt dùng một lần, vì chất cồn và hương liệu trong khăn có thể gây kích thích da bé.
– Cho da trẻ “thở”: Sau khi bỏ tã cũ, cho bé nằm chơi một lát (nằm sấp càng tốt) trước khi mặc tã mới, tạo điều kiện cho da bé khô ráo. Với những trẻ đã biết đi, cho trẻ đi lại trong phòng một lúc cũng giúp làm da trẻ được thông khí tốt.
– Sử dụng các loại kem chống hăm bôi nhẹ nhàng lên vùng da hăm, trước khi mặc tã mới.
– Không nên dùng tã nylon, hoặc siết tã quá chật.
– Có thể mặc tã lớn hơn một số trong vài ngày điều trị để giúp da trẻ thông thoáng.
– Tã cần được thay thường xuyên chứ không đợi tã đầy, để tránh da trẻ tiếp xúc quá lâu với phân và nước tiểu.
– Cho bé đi gặp bác sĩ nếu tình trạng hăm tã không cải thiện sau vài ngày chăm sóc tại nhà, hoặc trẻ có sốt, hoặc vùng hăm tã nổi mụn nước hay phồng giộp lên.
– Ngoài ra, nếu những mảng da đỏ lan ra cả ngoài vùng mặc tã, hoặc vùng da hăm tã xuất hiện dấu hiệu có mủ hay rỉ nước cũng là những dấu hiệu cho thấy bé cần phải được thăm khám bởi các bác sĩ chuyên khoa.
3.4. Phòng ngừa
– Cố gắng giữ cho phần da mặc tã càng sạch và khô càng tốt.
– Ngoài việc thường xuyên thay tã, có thể thử thay đổi các loại tã khác nhau xem da bé thích hợp với loại nào.
– Lau sạch nước tiểu và phân bằng vải mềm và nước sạch thông thường, không cần xà phòng đặc biệt nào, sau đó thấm khô nhẹ nhàng bằng khăn lông sạch, không nên cọ mạnh vì sẽ làm tổn thương da trẻ.
– Khi mặc tã mới, nên thoa nhẹ một lớp kem chống hăm tã để giúp làn da mỏng manh của bé ít bị kích thích hơn.
– Có thể dùng các loại kem đơn thuần chỉ chứa chất bôi trơn, hoặc loại có chứa oxid kẽm sẽ giúp bé phòng chống hăm tã tốt.
– Bỏ qua các loại hóa chất làm mềm vải hoặc hương liệu để tránh những kích thích không cần thiết cho da.
– Nếu trẻ đã từng bị hăm tã hoặc có dấu hiệu muốn xuất hiện hăm thì nên xả tã gấp đôi so với thường ngày.
– Đừng quên rửa tay bạn sạch sẽ sau khi thay tã cho bé để loại trừ các loại vi khuẩn và nấm luôn chực chờ để gây bệnh.
IV. CÁC VẤN ĐỀ VỀ DA KHÁC
4.1. Vấn đề về da mùa đông
– Bé đặc biệt dễ bị khô da, kích ứng da vào mùa đông.
– Một số yếu tố góp phần làm khô da bé là: Quạt sưởi, đèn sưởi làm không khí trong phòng bị khô và làm khô da bé.
– Bàn tay và khuôn mặt của bé là nơi ít được bảo vệ nhất; vì thế, chúng dễ bị khô và nứt nẻ.
– Gió cũng như bệnh cảm cũng gây ra khô nẻ.
4.2. Gợi ý đơn giản giúp giữ ẩm cho da bé:
– Không tắm cho bé nhiều hơn mỗi 2 ngày một lần và giảm thời gian tắm xuống.
– Không ủ ấm bé quá vì điều này gây đổ mồ hôi khiến da bị kích ứng.
– Nhớ rằng sự chênh lệch giữa nhiệt độ bên ngoài trời và trong phòng là rất lớn, nhất là trong mùa đông.
– Mặc cho bé nhiều lớp áo mỏng giúp bạn điều chỉnh quần áo cho bé thích hợp.
– Không mặc áo len bên trong, phải mặc áo lót rồi mới đến áo len.
4.3. Chuyện tắm rửa của bé
– Chỉ cần dùng nước ấm sạch, không cần xà phòng hay sữa tắm.
– Khi bé được vài tháng tuổi, bé có thể bị khô da hoặc bị chàm. Lúc đó, bạn có thể dùng sữa tắm không mùi dành cho da bị chàm để tránh khô da cho bé.
– Sau khi tắm, có thể thoa kem dưỡng ẩm không mùi trước khi mặc quần áo cho bé.
4.4. Mặc đồ cho bé
– Nên chọn quần áo có thể hút mồ hôi và thông thoáng:
– Nên chọn quần áo vải tự nhiên thay cho vải tổng hợp.
– Sử dụng nhiều lớp quần áo mỏng hơn là một lớp quần áo dày.
– Luôn đội mũ cho bé khi ra ngoài trời.
4.5. Hạn chế tiếp xúc hóa chất
– Nhiệt độ lạnh khắc nghiệt làm da mất nước, các chất bảo vệ, bã mồ hôi giảm đi dẫn tới khô và nứt nẻ;
– Những người có cơ địa da khô thì không nên tiếp xúc với các chất tẩy rửa, xà phòng, dầu gội;
– Nếu cần phải sử dụng găng tay, hạn chế tối đa việc da tiếp cận các chất có hại. Đồng thời, chú ý giữ gìn, chăm sóc da giữ ẩm cho da;
– Chế độ ăn uống cũng cần chú ý uống nhiều nước, ăn nhiều trái cây.
– Cần sắp xếp chế độ làm việc và ăn uống hợp lý, khoa học;
– Đối với trẻ em bị viêm da, mẩn ngứa giai đoạn đầu thường không có biểu hiện quấy khóc nên cha mẹ không phát hiện kịp thời
– Giữ vệ sinh thân thể trẻ , sử dụng các loại quần áo, tất mềm không gây hại cho da.
– Không tự ý cho trẻ các loại sản phẩm chống khô da khi chưa có chỉ định của bác sĩ.
V. CHÀM
– Là căn bệnh phổ biến với các bé.
– Bé có thể bị chàm từ khi sinh ra mặc dù nó thường bắt đầu từ 2 – 3 tháng tuổi. – Chàm dễ nhầm với ban đỏ, viêm da; khô nẻ thường xuất hiện trên má, trong nếp gấp nơi cánh tay, mắt cá chân, tai và cổ.
– Nhiều bé khi gãi sẽ gây nhiễm trùng, gây chảy nước vàng do vảy bị bong tróc.
5.1. Nguyên nhân
– Chàm có thể bắt nguồn từ tiền sử gia đình hoặc do kích thích bởi hóa chất, chẳng hạn hóa chất được tìm thấy trong bột giặt.
– Thời tiết ít độ ẩm gây khô da là nguyên nhân chính của bệnh chàm.
– Lông vật nuôi khiến bệnh chàm nặng hơn.
– Đôi khi chàm là triệu chứng của dị ứng thực phẩm. Thông thường, chàm có thể do trứng hoặc sữa bò.
– Nên dùng giẻ ẩm để lau dọn nhà và đầu tư vào một bộ lọc không khí.
– Cần lựa chọn quần áo cotton và giữ làn da bé luôn thoáng mát. Đối với ga gối cũng nên chọn chất liệu tương tự. “bỉm” được khuyến nghị nếu con bạn bị chàm vì nó hút chất lỏng tốt, ngăn chặn làn da nhiễm khuẩn và trở nên đau.
5.2. Điều trị
– Tránh xà phòng thơm và dùng kem làm mềm da cho bé.
– Các loại kem steroid cũng giúp kiểm soát làn da bị chàm.
VI. BỆNH CHỐC LỞ
– Là bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn gây nên, biểu hiện tình trạng nhiễm trùng da, thường xuất hiện quanh mũi, miệng và lỗ tai.
– Hơn 90% trường hợp bệnh chốc lở là do khuẩn tụ cầu, các trường hợp còn lại là do khuẩn liên.
– Nếu là khuẩn tụ cầu, sự nhiễm trùng sẽ gây ra những chỗ giộp đầy mủ. Những chỗ giộp này rất dễ tróc và để lại một chỗ trầy da chảy máu và chỗ đó sẽ nhanh chóng hình thành một lớp vảy với lớp vỏ màu nâu.
– Ngược lại, sự nhiễm trùng với khuẩn liên cầu thường không liên quan tới những vết bỏng giộp, nhưng tạo nên lớp vảy những chỗ lở loét hơn và gây đau.
6.1. Điều trị
+ Bệnh cần được điều trị bằng thuốc kháng sinh, cả thuốc bôi lẫn thuốc uống.
+ Điều quan trọng cần nhớ là chốc lở dễ lây lan cho tới khi hết nổi ban, hay sau hai ngày tiêm thuốc kháng sinh và trẻ có dấu hiệu hồi phục.
– Nên tránh chạm vào chỗ nổi chốc.
– Cũng hãy giữ đồ lót và khăn tắm của bé riêng biệt với của mọi người.
6.2. Phòng ngừa
– Giữ cho móng tay của trẻ gọn gàng và sạch sẽ, yêu cầu bé đừng gãi hay làm trầy những chỗ da đó.
– Khi bé có một vết trầy xước, rửa nước và xà phòng, thoa một ít kem kháng khuẩn hoặc thuốc mỡ.
– Cẩn thận không dùng khăn rửa mặt hoặc khăn tắm mà những người bị nhiễm trùng da đã sử dụng.
– Khi một số loại vi khuẩn liên cầu gây bệnh chốc lở da, một biến chứng hiếm thấy nhưng nghiêm trọng là viêm tiểu cầu thận có thể phát triển. Đây là nguyên nhân gây ra chứng tăng huyết áp và tiểu máu.
– Khi thấy nước tiểu của trẻ có màu máu hoặc nâu đậm, hãy thông báo ngay cho bác sĩ nhi khoa để có thể nhận định và kiểm tra các thứ nếu cần thiết

