Bệnh sán dây và ấu trùng sán dây lợn
Lâu nay, do scandal trường học cho trẻ ăn thịt lợn nghi nhiễm ấu trùng sán lợn (ATSL), khiến nhiều gia đình hoảng loạn và đưa con trẻ đi làm xét nghiệm tìm sán lợn một cách thái quá. Để giải đáp các thắc mắc của các gia đình kể trên chúng tôi xin gửi đến quý bạn đọc một số thông tin về bệnh sán dây và ấu trùng sán dây lợn.

Bệnh sán dây
I, BỆNH NGUYÊN
– Bệnh sán lợn là do sán lợn ký sinh trong ruột, khi đó gọi là bệnh sán dây trưởng thành.
– Bệnh ấu trùng sán lợn là do ấu trùng sán lợn (Cysticercus cellulosae) vào cơ thể người (chủ yếu trong cơ, trong não, trong mắt …), có bệnh nhân mang đến 300 nang dưới da. Thông thường phân bố như sau: vùng lưng ngực: 36.6%; tay: 28.8%; đầu, mặt cổ: 18.2%, chân: 17.4% … đa số bệnh nhân có ấu trùng ở cơ (98%) kèm theo có ấu trùng trong não.

Bệnh sán dây

Bệnh sán dây
II. CHU KỲ PHÁT TRIỂN
– Bệnh xảy ra do ăn phải trứng sán dây qua các thực phẩm nhiễm phân có chứa trứng sán hoặc là tự nhiễm (auto infection). Người bị nhiễm sán dây lợn trưởng thành có thể nhiễm đốt hoặc nhiễm trứng chứa trong phân, hoặc các đốt sán do quá trình nôn nhiễm trở lại. Một khi trứng được nuốt vào, phần oncospheres bám dính vào thành ruột, xâm nhập vào thành ruột và di chuyển đến cơ vân cũng như một số cơ quan, phủ tạng khác như não, gan, mô khác … tại đó chúng phát triển thành sán trưởng thành. Trên người, các nang sán có thể gây ra các di chứng nghiêm trọng nếu chúng định vị trong não, dẫn đến bệnh ấu trùng sán dây lợn tại não (neurocysticercosis).

Bệnh sán dây
– Khi con người tiêu hóa thịt heo nấu chưa chín có chứa cysticerci, các nang sán xâm nhập và dính vào ruột non nhờ bộ phận đầu scolex của chúng. Nhìn chung, có thể tóm lược sự phát sinh và phát triển của sán dây như sau:
– Sán dây trưởng thành sống ký sinh trong ruột người và sinh sản bằng cách rụng đốt; lợn ăn phải trứng và đốt sán phát tán trong môi trường hoặc ăn phân người có sán; trứng vào dạ dày và ruột của lợn rồi nở ra thành ấu trùng chui qua thành ống tiêu hóa vào máu tới các cơ vân tạo kén ở đó (lợn gạo);
– Người ăn phải thịt lợn gạo chưa nấu chín, ấu trùng sán vào ruột sẽ nở ra con sán trưởng thành;
– Sán phát triển lên bằng cách nẩy chồi, sinh đốt mới từ cổ, sán dài dần dần ra từ đầu ruột non đến cuối ruột già;
– Người ăn phải trứng sán dây lợn sẽ bị bệnh gạo, còn gọi là bệnh ấu trùng sán lợn (ATSL). Sau khi ăn phải trứng sán dây lợn, trứng vào dạ dày và ruột rồi nở ra ấu trùng, ấu trùng xuyên qua thành ống tiêu hóa vào máu và di chuyển đến ký sinh tại các cơ vân, não, mắt …
– Những người bị bệnh do ăn phải trứng sán dây lợn từ môi trường ngoài thường có ít nang (ngoại trừ trường hợp ăn phải cả đốt sán); những người có sán dây lợn trong ruột, khi đốt già rụng, theo phản ứng nhu động ruột mà đốt sán có thể trào ngược lên dạ dày và lúc này như là ăn phải trứng sán dây lợn với số lượng rất lớn nên số nang ở người cũng rất nhiều (trường hợp như thế gọi là tự nhiễm).
III. TÁC HẠI VÀ BIẾN CHỨNG
– Sán dây trưởng thành chiếm thức ăn, dẫn đến kém hấp thu, rối loạn tiêu hóa và nhiễm độc thần kinh (đối với ATSL) thường gây ra những biến chứng, nhất là gây tác hại đến hệ thần kinh trung ương; chẳng hạn, liệt các dây thần kinh, nói ngọng, giảm thị lực, gây động kinh; cuối cùng bệnh sán dây và ATSL gây ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.
– Nói chung bệnh sán dây và ấu trùng sán lợn là lành tính và các tổn thương có thể tự khỏi trong vòng 02 – 03 tháng; tỷ lệ tử vong cao hay thấp tùy thuộc diễn biến bệnh đơn giản hay phức tạp, nhất là những ca ATSL tại thần kinh trung ương;
– Trẻ em mắc bệnh thường do phơi nhiễm với nang sán (cyst) và có rất ít biến chứng, tiên lượng bệnh tốt;
– Các trường hợp neurocysticercose phức tạp ở trẻ em trong các vùng lưu hành bệnh là thường nhiễm tái đi tái lại với trứng sán. Vì biến chứng gia tăng áp lực nội sọ và khó kiểm soát cơn co giật, động kinh, nên các trẻ này có tiên lượng kém hơn. Một số biến chứng có thể tăng lên do không khống chế được cơn co giật, động kinh, não úng thủy, phù gai thị, nhức đầu, nôn mửa.
IV. LÂM SÀNG
– Bệnh sán dây trưởng thành thường không biểu hiện triêu chứng rõ rêt, một số trường hợp có biểu hiện lâm sàng: Đau bụng, rối loạn tiêu hóa hoặc có triệu chứng thần kinh (suy nhược); dấu hiệu chính là thấy đốt sán ra theo phân hoặc tự bò ra ngoài hậu môn; xuất hiện đốt sán theo phân và một số trường hợp có trứng sán trong phân được phát hiện.
– Bệnh ấu trùng sán lợn: Triệu chứng tùy thuộc vị trí ký sinh và đóng kén của ấu trùng: Tại não cũng tùy thuộc vị trí mà triệu chứng biểu hiện chức năng cũng khác nhau: động kinh, liệt, nói ngọng, rối lọan ý thức và có những cơn nhức đầu dữ dội;

Bệnh sán dây
– Khi ấu trùng cư trú ở mắt gây các triệu chứng chèn ép sau nhãn cầu, tăng nhãn áp, giảm thị lực, song thị …

Bệnh sán dây
– Ấu trùng cư trú ở cơ vân: Xuất hiện các nang dưới da với kích thước 0,5 – 2 cm, di động dễ dàng, không ngứa, thường ở cơ bắp tay, chân hoặc cơ liên sườn, cơ lưng, ngực; các nang này có thể gây ra triệu chứng máy, giật cơ; nếu một số nang đơn lẻ cần chú ý phân biệt với hạch.
V. CẬN LÂM SÀNG
5.1. Nguyên tắc:
– Chỉ thực hiện xét nghiệm khi có triệu chứng nghi ngờ nhưng chưa khẳng định được có phải nhiễm sán hay không: Đau bụng, rối loạn tiêu hóa hoặc có triệu chứng thần kinh.
– Khi đã thấy có đốt sán ra theo phân hoặc tự bò ra ngoài hậu môn không cần phải xét nghiệm mà nên điều trị ngay. Dù là sán dây loại nào, phác đồ điều trị cũng đều như nhau (xem phần 7.2) nên việc phân biệt sán dây lợn hay sán dây bò thực tế không có ý nghĩa.
5.2. Phát hiện sán trưởng thành:
+ Phát hiện kháng nguyên trong phân bằng kỹ thuật ELISA;
+ Phát hiện các đốt sán đi ra tự nhiên ở hậu môn.
+ Sinh thiết các nang sán dưới da tìm ấu trùng sán dây lợn;
+ Chụp cắt lớp vi tính (CT Scanner) não tìm các hình ảnh đặc hiệu (các nang sán là những nốt dịch có chấm mờ, kích thước 3 – 5 mm, đôi khi nang có kích thước lớn đến 10 mm, rải rác có nốt dạng vôi hóa);
+ Chẩn đoán huyết thanh học (ELISA) phát hiện kháng thể và kháng nguyên ấu trùng sán dây lợn trong huyết thanh bệnh nhân;
+ Một số trường hợp nhức sau nhãn cầu, tăng nhãn áp, giảm thị lực nếu nghi ngờ sán ở ổ mắt thì nên soi đáy mắt để xác định;
+ Xét nghiệm công thức máu toàn phần có thể có bạch cầu ái toan (E) tăng.
VI. CHẨN ĐOÁN
Khi bệnh chưa rõ ràng, chúng ta nên chẩn đoán phân biệt với một số bệnh khác như nhiễm vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, nấm … nhất là trong các bệnh nhân mắc ATSL ở hệ thần kinh:
– Viêm não, màng não do amíp, do vi khuẩn;
– U tế bào hình sao ở hệ thần kinh trung ương;
– U sọ hầu, u nguyên bào tủy
– Nhiễm cytomegalovirus, nhiễm giun tóc hệ thần kinh;
– Bệnh sarcoidose, bệnh sán máng thể não;
– Bệnh giun đũa chó, bệnh do toxoplasmose;
– Lao màng não;
VII. ĐIỀU TRỊ
7.1. Nguyên tắc điều trị:
– Điều trị sớm: Cần chẩn đoán sớm và điều trị ngay khi phát hiện có đốt sán để tránh những biến chứng do sán dây lợn (bệnh ấu trùng sán lợn);
– Không điều trị bằng thuốc đông y, thuốc nam hoặc các thuốc cổ điển đối với bệnh sán dây lợn vì dể xảy ra biến chứng nguy hiểm;
– Điều trị bệnh ấu trùng sán dây lợn nên thực hiện ở cơ sở y tế trang bị phương tiện cấp cứu tốt, có bác sĩ chuyên khoa theo dõi.
7.2. Thuốc điều trị:
Có một số thuốc đặc hiệu dùng điều trị bệnh sán dây và ATSL như Praziquantel, Niclosamide và Albendazole.
7.3. Phác đồ điều trị:
– Điều trị bệnh sán dây trưởng thành:
+ Praziquantel 15 – 20mg/kg cân nặng liều duy nhất hoặc
+ Niclosamide liều 2 gam cho người lớn liều duy nhất hoặc có thể lặp lại liều trong vòng 7 ngày nếu cần thiết.
– Điều trị bệnh ấu trùng sán lợn, có thể dùng 1 trong 2 phác đồ sau đây:
+ Praziquantel 30mg/kg/ngày x 15 ngày x 02 – 03 đợt (mỗi đợt cách nhau 10 – 20 ngày) hoặc
+ Praziquantel 15 – 20mg/kg, liều duy nhất ngày đầu. Những ngày sau dùng Albendazole 15mg/kg/ngày x 30 ngày x 02 – 03 đợt (mỗi đợt cách nhau 20 ngày).
– Với trẻ em, khi điều trị bằng thuốc Niclosamide, cần cho liều theo cân nặng cơ thể và được chỉ định bởi bác sĩ.
+ Với những trẻ từ 11 – 34 kg: Liều duy nhất 1 g, có thể lặp lại trong vòng 7 ngày nếu cần thiết;
+ Với trẻ > 34 kg: Liều duy nhất 1,5 g, có thể lặp lại trong vòng 7 ngày nếu cần thiết.
VIII. PHÒNG CHỐNG
– Không ăn thịt lợn, gan lợn chưa nấu chín như nem thính, nem chua, tré, thịt lợn tái, gan tái;
– Kết hợp với các ngành chức năng kiểm tra chặt chẽ các lò mổ loại bỏ các con vật mang ấu trùng sán;
– Quản lý phân tốt: Sử dụng hố xí hợp vệ sinh, không để lợn thả rông ăn phân người; tốt nhất không nuôi lợn thả rông.
– Không ăn rau sống, không uống nước lã;
– Phát hiện và điều trị sớm những người mắc bệnh sán dây và xử lý những con sán đã được tẩy ra, đặc biệt sán dây lợn để ngăn ngừa mắc bệnh ấu trùng sán lợn theo cơ chế tự nhiễm.

