BỆNH SÁN LÁ GAN

thuy trang
15/09/24
0

Bệnh sán lá gan

Khoảng 8 giờ sáng ngày 24 tháng 4 năm 2019, tại khoa Nhi Phòng khám Đa khoa Giang San có khám cho một trẻ nữ 14 tuôi vào khám với lý do: Đau bụng, ngứa, ho. Qua thăm khám thấy
– Da – niêm mạc bình thường.
– Tim đều rõ, nhịp tim 90 chu kỳ/phút.
– Phổi không có rales bênh lý, thở 22 lần/phút
– Đau thượng vị
Kết quả xét nghiệm thấy:
– Công thức máu: Bạch cầu – 13,9 G/L; MID% – 14,4%
– Siêu âm: Hình ảnh nốt giảm âm nhỏ ở nhu mô gan trái. Nghi ngờ nhiễm sán lá gan
– Xét nghiệm sán lá gan: Fasciola hepatica dương tính
Chẩn đoán: Bệnh sán lá gan lớn.
Vậy bệnh sán lá gan có những đặc điểm gì, có nguy hiểm không và cách điều trị ra sao, mời quý bạn đọc cùng tìm hiểu.

BỆNH SÁN LÁ GAN

I. ĐẠI CƯƠNG
– Theo Cục Y tế dự phòng – Bộ Y tế, bệnh sán gan bao gồm bệnh sán lá gan nhỏ và sán lá gan lớn.
– Đây là bệnh truyền nhiễm lây qua đường tiêu hóa, triệu chứng của bệnh thường giống với các bệnh lý khác của gan.
– Bệnh sán lá gan bao gồm bệnh sán lá gan nhỏ và sán lá gan lớn.
+ Sán lá gan nhỏ có 3 loài Clonorchis sinensis; Opisthorchis viverrini; Opisthorchis felineus.
+ Sán lá gan lớn có 2 loài Fasciola hepatica; Fasciola gigantica.
– Sán lá gan lớn và sán lá gan nhỏ đều có hình chiếc lá, thân dẹt, bờ mỏng. Kích thước khác nhau tùy loài; sán lá gan lớn kích thước lớn hơn so với sán lá gan nhỏ.
– Cơ thể sán đều là lưỡng giới, vừa có tinh hoàn và buồng trứng trên một cơ thể sán.
– Trứng sán lá gan có vỏ mỏng nên tồn tại ở môi trường bên ngoài rất kém, nhiệt độ ánh sáng mặt trời trên 70 độ C trứng sẽ bị hỏng. Tuy nhiên, trứng sán muốn phát triển thành ấu trùng phải có môi trường nước, nếu trên cạn trứng sẽ bị hỏng và không phát triển được, khả năng tồn tại của sán lá gan trưởng thành ở ngoại cảnh cũng rất kém.

Sán lá gan

Sán lá gan

II. DỊCH TỄ HỌC
2.1. Bệnh sán lá gan nhỏ:
– Vật chủ chính là người và một số động vật như chó, mèo, hổ báo, cáo chồn, rái cá, chuột; vật chủ trung gian truyền bệnh thứ nhất là các loài ốc Bythinia, Melania, vật chủ trung gian truyền bệnh thứ hai là cá nước ngọt …
– Người nhiễm bệnh do ăn cá, ốc có chứa ấu trùng sán chưa được nấu chín thì sau khi ăn ấu trùng này vào dạ dày, xuống tá tràng rồi ngược theo đường mật lên gan, phát triển thành sán lá gan trưởng thành ký sinh và gây bệnh ở đường mật.
2.2. Bệnh sán lá gan lớn:
– Vật chủ chính là động vật ăn cỏ như trâu, bò; người chỉ là vật chủ ngẫu nhiên, vật chủ trung gian truyền bệnh là ốc họ Lymnaea.
– Người bị nhiễm bệnh do ăn sống các loại rau mọc dưới nước (rau ngổ, rau rút, rau cần, cải xoong…) hoặc uống nước lã có nhiễm ấu trùng sán.

III. LÂM SÀNG
3.1. Thời gian ủ bệnh
Thời gian ủ bệnh của bệnh sán gan nhỏ và sán lá gan lớn đều phụ thuộc vào số lượng ấu trùng ăn phải và đáp ứng của vật chủ, đối với sán lá gan nhỏ nhiễm trên 100 sán mới có biểu hiện rõ rệt, còn đối với sán lá gan lớn thời gian ủ bệnh khó xác định chính xác.
3.2. Thời kỳ lây truyền
– Đối với sán lá gan nhỏ :
+ Sau khi xâm nhập vào nhu mô gan, sán non sẽ phát triển thành sán trưởng thành và đẻ trứng trong các đường dẫn mật, trứng được bài xuất ra ngoài theo phân và xuống nước phát triển theo chu kỳ khép kín rồi lây truyền qua đường ăn cá sống có nang trùng.
+ Do ký sinh trong đường mật, khi nhiễm sán lá gan nhỏ có thể có các biểu hiện:
* Thường có triệu chứng đau tức vùng gan do sán sinh sản gây tắc các đường mật trong gan dẫn đến biểu hiện đau tức hạ sườn phải.
* Rối loạn tiêu hóa (kém ăn, bụng ậm ạch khó tiêu);
* Đôi khi có biểu hiện sạm da, vàng da và dấu hiệu gan to hay xơ gan tùy theo mức độ của bệnh.
* Trường hợp nặng, sán lá gan nhỏ có thể gây viêm đường mật, chảy máu đường mật, ung thư đường mật, xơ gan mật …
– Đối với sán lá gan lớn:
* Sau giai đoạn xâm nhập vào nhu mô gan từ 2 – 3 tháng, sán sẽ xâm nhập vào đường mật, trưởng thành và đẻ trứng.
* Trứng được bài xuất ra ngoài theo phân và xuống nước nở thành ấu trùng lông rồi qua ốc và phát triển thành ấu trùng đuôi và nang trùng bám vào rau thủy sinh hoặc bơi trong nước.
* Nếu người hoặc động vật ăn cỏ ăn phải nang trùng sẽ vào dạ dày tới ruột rồi lên gan và ký sinh tại gan. Tại gan, sán trưởng thành có thể ký sinh và gây bệnh trong nhiều năm.
* Người bệnh nhiễm sán lá gan lớn thường có biểu hiện:
> Đau vùng hạ sườn phải lan về phía sau hoặc đau vùng thượng vị và mũi ức; tính chất đau không đặc hiệu, có thể âm ỉ, đôi khi đau dữ dội, cũng có trường hợp không đau bụng.
> Bệnh nhân mệt mỏi, có cảm giác đầy bụng khó tiêu, rối loạn tiêu hóa, buồn nôn, có thể sốt hoặc đau khớp, đau cơ và mẩn ngứa …
> Một số trường hợp sán lá gan lớn gây abces gan, bệnh nhân đau hạ sườn phải dữ dội, sốt, gan to. Nếu khối áp xe vỡ lên phổi có thể gây tràn dịch màng phổi, bệnh cảnh nặng nề.
> Một số trường hợp sán ký sinh lạc chỗ như ở phổi, dưới da ngực …
3.3. Triệu chứng của bệnh sán lá gan:
– Triệu chứng toàn thân:
+ Mệt mỏi, biếng ăn, gầy sút.
+ Sốt: Sốt thất thường, có thê sốt cao, rét run hoặc sốt chỉ thoáng qua rồi tự hết, đôi khi sốt kéo dài.
+ Thiếu máu: Da xanh, niêm mạc nhợt gặp ở các trường hợp nhiễm kéo dài đặc biệt ở trẻ em.
– Các triệu chứng tiêu hoá: Là các triệu chứng thường gặp nhất.
+ Đau bụng: Đau vùng hạ sườn phải lan về phía sau hoặc vùng thượng vị – mũi ức. Tính chất đau không đặc hiệu, có thể đau âm ỉ, đôi khi dữ dội, cũng có trường hợp không đau bụng.
+ Bệnh nhân có cảm giác đầy bụng khó tiêu, rối loạn tiêu hoá, buồn nôn.
+ Một số bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng của một số biến chứng: Tắc mật, viêm đường mật, viêm tụy cấp, xuất huyết tiêu hoá …
+ Khám lâm sàng:
* Gan to hoặc bình thường, mật độ mềm, ấn đau, có dấu hiệu ấn kẽ liên sườn.
* Có thể có dịch trong ổ bụng, đôi khi có viêm phúc mạc.
– Các triệu chứng khác (hiếm gặp):
+ Phản ứng viêm: Đau nhiều khớp, đau cơ, đỏ da.
+ Ho, khó thở hoặc có ban dị ứng mẩn ngứa ngoài da (biểu hiện nhiễm ký sinh trùng).
+ Tràn dịch màng phổi
+ Các triệu chứng biểu hiện sự tổn thương tổ chức nơi sán ký sinh lạc chỗ như khớp vú, hoặc các cơ quan khác.

Bệnh sán lá gan

Bệnh sán lá gan

IV. CẬN LÂM SÀNG
Nếu nghi ngờ bị nhiễm sán lá gan, bệnh nhân có thể đến viện làm xét nghiệm:
– Xét nghiệm công thức máu: Số lượng bạch cầu trong máu ngoại vi có thể tăng hoặc bình thường nhưng tỷ lệ bạch cầu ái toan tăng cao.
– Chẩn đoán hình ảnh: Siêu âm cho thấy hình ảnh tổn thương gan là những ổ âm hỗn hợp hình tổ ong hoặc có thể thấy hình ảnh tụ dịch dưới bao gan. Trong một số trường hợp cần thiết có thể chụp cắt lớp vi tính gan (những hình ảnh này chỉ có tính chất gợi ý).
– Xét nghiệm phân: Tìm trứng sán trong phân hay dịch mật (tuy nhiên tỷ lệ phát hiện được trứng sán rất thấp và còn phụ thuộc vào phương pháp xét nghiệm). Cần xét nghiệm phân trong 3 ngày liên tục.
– Bệnh sán lá gan nhỏ: Xét nghiệm tìm thấy trứng sán trong phân hoặc dịch tá tràng.
– Bệnh sán lá gan lớn: Xét nghiệm tìm thấy trứng sán trong phân hoặc xét nghiệm máu bằng kỹ thuật miễn dịch (ELISA) tìm thấy kháng thể kháng sán lá gan lớn trong huyết thanh bệnh nhân.
– Ngoài ra, trong trường hợp sán ký sinh lạc chỗ, cần có các phương tiện chẩn đoán hình ảnh để xác định vị trí sán ký sinh như CT Scanner, MRI …

V. CHẨN ĐOÁN
5.1. Chẩn đoán xác định
– Yếu tố dịch tễ: người bệnh sống trong vùng sán lá gan lưu hành
– Lâm sàng: Có một hoặc nhiều dấu hiệu lâm sàng nêu trên.
– Cận lâm sàng:
+ Tỷ lệ bạch cầu ái toan tăng cao trên 8% (có thể tới 80%)
+ Chẩn đoán hình ảnh cho các trường hợp nghi có áp xe gan: siêu âm hoặc chụp cắt lớp vi tính (CT – Scan) ổ bụng thấy gan có các ổ âm hỗn hợp hình tổ ong hoặc hình ảnh dày bao gan tương ứng với vị trí tổn thương hoặc hình ảnh tụ dịch dưới bao gan.
+ Chẩn đoán miễn dịch học: ELISA phát hiện có kháng thể kháng sán lá gan trong huyết thanh (theo hướng dẫn của nhà sản xuất).
+ Xét nghiêm phân hoặc dịch mật tìm thấy trứng sán.
5.2 Chẩn đoán phân biệt
– Áp xe gan do các loại ký sinh trùng khác (amib, giun đũa, Toxocara …) hoặc do vi khuẩn (áp xe đường mật …).
– Ung thư gan (u gan).

VI. ĐIỀU TRỊ
– Khi được chẩn đoán nhiễm sán lá gan, người bệnh cần được điều trị sớm, đủ liều và dùng thuốc đặc hiệu theo chỉ định của bác sĩ, bên cạnh đó người bệnh cần được bồi dưỡng nâng đỡ thể trạng.
– Tuy nhiên có một số trường hợp có chống chỉ định điều trị: Phụ nữ có thai, người đang mắc bệnh cấp tính, suy gan, suy thận nặng, dị ứng với thuốc cần dùng …
6.1. Điều trị đặc hiệu
Thuốc được lựa chọn để điều trị đặc hiệu là Triclabendazole 250 mg
– Liều lượng: 10 mg/kg cân nặng. Liều duy nhất. Uống với nước đun sôi để nguội. Uống sau khi ăn no.
– Chống chỉ định: Người đang bị bệnh cấp tính khác; phụ nữ có thai; phụ nữ đang cho con bú; người có tiền sử mẫn cảm với thuốc hoặc một trong các thành phần của thuốc; người đang vận hành máy móc, tàu xe; người bệnh trong giai đoạn cấp của các bệnh mạn tính về gan, thận, tim mạch …
– Tác dụng không mong muốn: Ngay sau uống thuốc (ngày điều trị đầu tiên) có thể gặp các triệu chứng:
+ Đau bụng vùng hạ sườn phải, có thể đau âm ỉ hoặc thành cơn.
+ Sốt nhẹ
+ Đau đầu nhẹ.
+ Buồn nôn, nôn
+ Nổi mẩn, ngứa.
– Xử trí tác dụng không mong muốn
+ Sử dụng thuốc giảm đau khi đau dữ dội.
+ Thuốc hạ sốt.
+ Thuốc chống dị ứng.
+ Xử trí tuỳ theo các triệu chứng lâm sàng xuất hiện.
Tuy nhiên hầu hết các triệu chứng trên chỉ thoáng qua, không phải xử trí.
6.2. Điều trị hỗ trợ
– Sử dụng kháng sinh nếu có bội nhiễm ….
– Với các trường hợp có ổ áp xe gan kích thước lớn trên 6 cm mà điều trị bằng thuốc theo hướng dẫn không có hiệu quả, có thể phối hợp với chọc hút ổ áp xe.
6.3. Theo dõi và đánh giá kết quả
– Thời gian theo dõi: người bệnh được theo dõi tại cơ sở khám chữa bệnh ít nhất 03 ngày kể từ ngày uống thuốc; khám lại sau 3 tháng, 6 tháng điều trị.
– Các chỉ số đánh giá sau 03, 06 tháng điều trị:
+ Lâm sàng: Các triệu chứng lâm sàng giảm hoặc hết.
+ Số lượng bạch cầu ái toan trở về bình thường hoặc giảm.
+ Siêu âm gan: Kích thước ổ tổn thương gan giảm.
+ Xét nghiệm phân hoặc dịch mật không còn trứng sán
Cần chẩn đoán phân biệt với các nguyên nhân khác. Nếu xác định là sán lá gan, cần điều trị bằng Triclabendazole lần thứ 2 với liều 20mg/kg cân nặng, chia 2 lần uống cách nhau 12 đến 24 giờ.
Chú ý: Kháng thể có thể tồn tại lâu dài sau điều trị.

VII. PHÒNG BỆNH
Từ những hiểu biết về phương thức lây truyền và tác hại của sán lá gan, mọi người cần thực hiện các biện pháp sau để phòng bệnh:
– Thực hiện ăn chín, uống sôi: không ăn các loại cá, ốc khi chưa được nấu chín kĩ dưới mọi hình thức, không ăn các loại rau sống mọc dưới nước.
– Thực hiện rửa tay trước khi ăn, chế biến thức ăn; sau khi đi vệ sinh, tiếp xúc với phân, rác thải …
– Quản lý phân người và phân động vật, không dùng phân tươi để bón rau.
– Sử dụng nước sạch để ăn uống.
– Tẩy giun định kỳ 6 tháng/lần.
Bệnh sán lá gan là một bệnh truyền nhiễm qua đường tiêu hóa, bệnh có thể gây nên các biến chứng nặng, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người. Nếu nghi ngờ nhiễm bệnh, người bệnh phải đến cơ sở khám chữa bệnh để được khám, xét nghiệm, chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *