RỐI LOẠN ĐA NHÂN CÁCH

thuy trang
15/09/24
0

Rối loạn đa nhân cách (Rối loạn tách rời nhận thức – Dissociative Identity Disorder)

Rối loạn đa nhân cách

Rối loạn đa nhân cách

I. ĐẠI CƯƠNG
– Đa nhân cách nằm trong tổ hợp các bệnh có liên quan đến chấn thương tâm lý như: Hậu chấn thương tâm lý rối loạn căng thẳng (PTSD), rối loạn căng thẳng cấp tính (ASD) …
– Đa nhân cách, PTSD và ASD có cùng một triệu chứng đó là sự tách rời nhận thức.
– Giống như PTSD là những người gặp chấn thương tâm lý quá nặng và sau đó đôi khi bị tách rời ra khỏi hiện thực đang sống, trải nghiệm cảm giác sống lại trong ký ức đáng sợ làm tổn thương tâm lý.
– Đa nhân cách cũng là sự tách rời ra khỏi hiện thực nhưng người mắc bệnh sẽ không nhớ gì và cũng không biết được là mình đã làm gì trong khoảng thời gian bị tách rời nhận thức ấy, đa số cho rằng mình đang ngủ nhưng thực chất không phải.
– Từ DSM – IV, đa nhân cách có tên gọi khác là rối loạn tách rời nhận thức (Dissociative Identity Disorder).
– Một trong những đặc điểm chính của đa nhân cách là người bị bệnh mất khả năng nhớ lại một số thông tin quan trọng về mình, những sự kiện lớn mà không thể giải thích.
– Nói đơn giản một chút, sẽ có những khoảng trống trong ký ức mà người bệnh không nhớ nổi. Có những chuyện quan trọng đã xảy ra trong quá khứ nhưng người bệnh không hề có một chút ý thức gì về nó, người bệnh không hề có một cảm giác hay ý thức gì về những nhân cách còn lại của mình.
– Sự rối loạn này phải không xuất phát từ thuốc, chất kích thích hay bất kỳ tình huống y khoa nào để được coi là rối loạn đa nhân cách.
– Rối loạn đa nhân cách là một dạng bệnh lý tâm thần. Biểu hiện là sự mất nhận thức về bản thân và người bệnh thường đồng nhất hóa mình với người khác. Người mắc bệnh rối loạn đa nhân cách luôn chịu những diễn biến tâm lý phức tạp, họ bị hai hay nhiều nhân cách thay nhau kiểm soát và chi phối.
– Chứng rối loạn đa nhân cách phản ánh sự thất bại trong việc thống nhất tất cả những khía cạnh của tính cách, trí nhớ và ý thức. Mỗi một trạng thái nhân cách có thể trải nghiệm từng khoảng ký ức nhất định và riêng biệt so với các nhân cách còn lại.
– Thường thì có một nhân cách chính mang tên thật (tên được ba mẹ đặt và hiện diện trên giấy tờ hành chính) và nhân cách này luôn ở thế bị động, phụ thuộc, hay mang cảm giác tội lỗi và trầm uất.
– Những nhân cách còn lại có những tên riêng khác biệt và có tính cách trái ngược hẳn với nhân cách chính. Nếu như nhân cách chính ngoan hiền, vâng lời, thì các nhân cách còn lại thương là hung hăng và nổi loạn.
– Những nhân cách đặc biệt thường hiện ra trong một số tình huống nhất định và tuỳ theo độ tuổi, giới tính, ngôn ngữ, thường thức hoặc có những tác động chiếm ưu thế lên nhân cách chính.
– Những nhân cách xen kẽ kia chiếm quyền điều khiển liên tiếp nhau (nhân cách chính vừa mất quyền điều khiển là các nhân cách khác lần lượt nổi lên), thường các nhân cách này không chấp nhận những kiến thức, sự hiểu biết của nhân cách kia, chỉ trích lẫn nhau hoặc xuất hiện cùng lúc.
– Giữa các nhân cách xen kẽ thì sẽ có một nhân cách mạnh hơn, nắm quyền lãnh đạo và phân phối thời gian cho những nhân cách còn lại.
– Cá nhân người mang bệnh rối loạn đa nhân cách này sẽ trải nghiệm những khoảng trống trong trí nhớ, cả quá khứ lẫn hiện tại. Sự lãng quên này thường bất đối xứng. Nhân cách chính nào càng thụ động thì càng có ít ký ức về mình, và ngược lại, nhân cách nào càng hung hăng, chống đối, có ý điều khiển hoặc “bảo vệ” thì sẽ càng có nhiều ký ức hoàn chỉnh về mình.
– Những nhân cách khi không nắm quyền điều khiển vẫn có thể xâm nhập vào ý thức của nhân cách còn lại bằng việc tạo ra những thanh âm hoặc ảo giác (như ra lệnh).
– Những bằng chứng về sự lãng quên và hiện diện của nhân cách khác thường được phát hiện bởi những người có dịp chứng kiến những hành vi mà thường nhân cách chính sẽ không bao giờ làm, hoặc được phát hiện ra bởi nhân cách chính (tìm thấy những món đồ mà mình không thể nhớ là đã mua lúc nào).
– Sự luân phiên thay đổi quyền điều khiển giữa các nhân cách thường xuất hiện dưới những áp lực về tâm lý. Và thời gian chuyển đổi giữa hai nhân cách chỉ xảy ra trong tích tắc.
– Những biểu hiện thường xuất hiện cùng với sự chuyển đổi nhân cách này thường là nháy mắt không ngừng, cơ mặt thay đổi, giọng nói khác hẳn. Số nhân cách thường ở trong khoảng từ hai cho đến mười.

II. NGUYÊN NHÂN
– Nhiều chuyên gia cho rằng bệnh này không có thật khi có rất ít bằng chứng về nguyên nhân gây ra đa nhân cách.
– Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận rằng chấn thương tâm lý dù ít dù nhiều vẫn có ảnh hưởng lên đến tâm lý và nhân cách người bệnh.

III. CÁC HỆ QUẢ XÃ HỘI
– Một số bộ phim lẫn lộn triệu chứng giữa hai bệnh Tâm thần phân liệt hoang tưởng và Đa nhân cách.
– Triệu chứng Tâm thần phân liệt hoang tưởng là thường nghe thấy một giọng nói khác trong đầu mình mang đầy vẻ tiêu cực, công kích và nghi ngờ kẻ khác, cho rằng tất cả mọi người đều mang ý xấu. Nó khiến cho bệnh nhân làm ra hành vi tổn thương người khác như đánh nhau, chửi bới, hoặc thậm chí giết người. Vì sự hiểu lầm này mà bệnh Đa nhân cách từng được cho là một dạng khác của bệnh Tâm Thần Phân Liệt nhưng thực tế hai bệnh này hoàn toàn khác nhau.
– Đa nhân cách đã được dời ra khỏi mục Tâm thần phân liệt và được xếp vào Rối loạn tách rời nhận thức. Người mắc bệnh rối loạn Đa nhân cách hầu như không hề biết được sự tồn tại của các nhân cách khác cho đến khi họ đi khám và được nhân viên trị liệu cho biết.
– Chưa có trường hợp bệnh nhân Đa nhân cách nào giết người vì căn bản sự hình thành của các nhân cách này là để bảo vệ chứ không phải gây tổn hại. Đó là một kiểu trốn chạy khỏi hiện thực của nhân cách chính.

IV. TỶ LỆ NGƯỜI MẮC BỆNH ĐA NHÂN CÁCH
– Rất hiếm, cực kỳ hiếm, người thực sự mắc bệnh đa nhân cách không nhiều.
– Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đa nhân cách không thật sự tồn lại mà nó giống như là sự nhập vai (role enactment) thì hơn.
– Lý do những nhà nghiên cứu này đưa ra là tỷ lệ mắc bệnh đa nhân cách giảm mạnh khoảng giữa những năm 1990 và bệnh Đa nhân cách chỉ được chẩn đoán ở Mỹ và Canada, còn những nước khác trên thế giới thì rất hiếm.
– Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng bệnh đa nhân cách không thực sự tồn tại mà đó là sự ảnh hưởng của nhà tâm lý trị liệu lên người bệnh.

V. SỰ GIAO TIẾP GIỮA CÁC NHÂN CÁCH
– Có thể có sự giao lưu giữa các nhân cách phụ, nhưng hầu như không có sự liên lạc giữa nhân cách phụ và nhân cách chính trước khi được chữa trị.
– Việc bỗng dưng nghe được giọng nói trong đầu xảy ra trước khi người bệnh gặp chuyên viên tâm lý và chẩn đoán thì nó giống triệu chứng bệnh tâm thần phân liệt hơn là đa nhân cách.

Rối loạn đa nhân cách

Rối loạn đa nhân cách

VI. PHÂN BIỆT NHÂN CÁCH VÀ TÍNH CÁCH
– Tính cách là tổ hợp những đặc điểm về tâm lý và các cơ chế giải đáp thông tin của một cá nhân được sắp xếp có tổ chức và tồn tại một khoảng thời gian, gây ảnh hưởng đển sự giao thoa giữa người ấy và sự thích nghi với tâm lý bên trong, sinh lý và xã hội.
– Nhân cách là sự nhận định của một người về bản thân mình và những cá nhân khác trong cùng một hội nhóm mà người đó thuộc về.
– Tính thay đổi thất thường không phải là triệu chứng của bệnh đa nhân cách. Trong tâm lý tính cách con người có một định nghĩa gọi là tính cách xã hội (Social Personality) nghĩa là trong từng môi trường nhất định, bạn có những biểu hiện, hành vi, suy nghĩ khác nhau để cho phù hợp với môi trường đó.
– Môi trường khác nhau ảnh hưởng đến con người khác nhau. Nó giống như là kiểu nhập vai mà tôi nói ở phía trên. Bạn chỉ đang thích nghi với từng môi trường khác nhau chứ không phải là bạn có nhiều nhân cách khác nhau. Phải nói là bạn có nhiều tính cách khác nhau tùy vào môi trường mà bạn sinh hoạt và làm việc nhưng bạn chỉ có một nhân cách mà thôi.

VII. CÁC VÍ DỤ TIÊU BIỂU
1. Người phụ nữ có 20 nhân cách
– Cô Kim Noble, một phụ nữ 51 tuổi người Anh, đã khiến mọi người bất ngờ khi tuyên bố cô đã chung sống với 20 nhân cách trong người.
– Ngay từ năm lên 7 tuổi, cô Noble đã phải đối mặt với chứng bệnh đa nhân cách.
– Do cha mẹ quá bận bịu với công việc, cô thường sống thui thủi trong bốn bức tường, khi thấy những hành vi kỳ quái của con gái thì cha mẹ cô lại tỏ ra thờ ơ vì nghĩ rằng đó là biểu hiện thông thường của trẻ con.
– Tới năm 14 tuổi, cha mẹ phải đưa Noble đi khám bác sĩ. Ban đầu, các bác sĩ kết luận Noble bị mắc bệnh tâm thần phân liệt, mãi nhiều năm sau người ta mới phát hiện Noble bị mắc bệnh đa nhân cách. Noble cho biết, mỗi một nhân cách đến với cô rất tự nhiên và rời khỏi tựa như cảm giác tỉnh giấc sau một giấc ngủ.
– Năm 2005, bác sĩ Debbie Mackail khuyên cô Noble thử dùng cách vẽ tranh khắc họa lại những nhân vật khác nhau trong cơ thể cô. Điều khiến mọi người ngạc nhiên là khi vẽ tranh cô Noble không thể ngừng lại được, cô đã vẽ liên tiếp rất nhiều bức tranh khác nhau. Bác sĩ Mackail đã căn cứ vào những tác phẩm này để phân tích các nhân cách trong cơ thể cô.
– Noble cho biết khi cô vẽ tranh, mỗi bức tranh do nhân cách của một người làm chủ đạo. Tác phẩm có sự tương phản mạnh mẽ, màu sắc và đề tài đối lập. Có tranh vẽ vật cụ thể, có tranh vẽ trừu tượng, có tranh vẽ người, có tranh vẽ cảnh … Mỗi lần vẽ xong một bức tranh, cô Noble không thể nhớ quá trình mà mình vẽ bức tranh đó.
– Cô Noble từng lập gia đình và có một cô con gái, chồng của cô do quá sợ hãi phải sống chung với người vợ có 20 nhân cách nên đã đệ đơn ly hôn.
2. Người phụ nữ có 17 nhân cách
– Cô Karen Overhill lần đầu tiên đến phòng khám của tiến sĩ tâm lý Richard Baer ở Chicago, Mỹ vào năm 1989. Khi đó, cô 29 tuổi, đã có 2 con, bị chồng lừa dối và vừa trở về sau một vụ tự tử bất thành.
– Đó là lần đầu tiên tiến sĩ Richard gặp cô Karen. Nhưng phải 4 năm sau, tiến sĩ Richard mới có chứng cứ chắc chắn để khẳng định rằng cô Karen bị mắc chứng rối loạn nhân cách. Đó là mẩu giấy do chính cô viết với nội dung: “Tên tôi là Claire, 7 tuổi, tôi sống trong linh hồn của Karen.”
– Dưới liệu pháp chữa trị của bác sĩ Richard, những nhân cách khác đã “chui” ra khỏi cô Karen. Một số là đàn ông, một số là phụ nữ, đủ mọi lứa tuổi, đủ mọi tính cách … Thậm chí mỗi linh hồn đều hiển thị trạng thái sức khỏe rất riêng, có người thì bị viêm phế quản, có người hay bị ốm … Theo thống kê của tiến sĩ Richard, cô Karen có tất cả 17 nhân cách.
– Ngay từ khi còn nhỏ, cô Karen thường bị người cha ngược đãi bằng những hành động như: quẳng vào tường, dùng băng dính bịt miệng, trói chân tay … Bên cạnh đó, ông nội cô thì thường xuyên xỉ vả. Mẹ của Karen cũng là nạn nhân nên không bảo vệ được con gái. Kể từ đó, thế giới nội tâm trong cô Karen trở nên vô cùng phức tạp.
– 17 linh hồn của Karen như sau:
+ Karen Boo: một cô bé bị lạm dụng tình dục khi còn nhỏ
+ Karen 1: một bé gái 10 tuổi hay thẹn thùng
+ Karen 2: thiếu nữ 21 tuổi yêu đời, thường hẹn họ với các bạn trai
+ Karen 3: người phụ nữ 30 tuổi từng bị kẻ xấu lừa gạt rồi dẫn đến tự tử
+ Juliann: một thiếu niên bị bệnh tâm thần
+ Sandy: cô gái 18 tuổi tự tử vì bệnh cuồng ăn
+ Julie: cô gái 13 tuổi không đi lại được do hậu quả của việc bị cưỡng hiếp
+ Katherine: người phụ nữ 34 tuổi thường xuyên chăm sóc cho những đứa con của Karen
+ Ann: cô gái nhân hậu thường đến nhà thờ để giảng giải về tôn giáo cho 2 bé con nhà Karen
+ Elise: cô bé 8 tuổi từng bị lạm dụng tình dục
+ Karl: cậu bé 10 tuổi bị lạm dụng tình dục nặng nề nhất
+ Miles: cậu bé 8 tuổi bị lạm dụng thể xác
+ Thea: cô bé 6 tuổi hứng chịu mọi đau đớn trong 2 cuộc phẫu thuật thời thơ bé của Karen
+ Claire: cô gái xinh đẹp từng xuất hiện khi Karen bị cưỡng ép tình dục
+ Sidney: cậu bé 5 tuổi chuyên ăn cắp vặt, cha của Karen ép buộc Sidney phải làm như thế
+ Jensen: cậu bé da màu 11 tuổi có khả năng vẽ tranh phác họa những cảm xúc và trải nghiệm của Karen
+ Hondon: người cha đỡ đầu 34 tuổi chuyên chăm nom người khác, làm nghề lái xe

Rối loạn đa nhân cách

Rối loạn đa nhân cách

3. Cô gái có 18 nhân cách
– Do có những biểu hiện trầm uất, cô gái người Mỹ tên là Molly đã tìm đến các bác sĩ tâm lý. Sau 6 tháng điều trị, các bác sĩ phát hiện ra trong con người cô có đến 18 nhân cách khác nhau: 1 người đàn ông, 8 người phụ nữ thích quấy nhiễu, 8 trẻ em và 1 người thường xuyên dàn xếp với 17 người kia để khỏi xảy ra va chạm.
– Trước khi đến gặp bác sĩ, cô Molly đã phải trải qua một thời gian dài chán ăn rồi lại ăn uống vô độ, cô mắc bệnh trầm cảm, thỉnh thoảng cảm thấy cơ thể đau nhức mà không rõ nguyên nhân. Bên cạnh đó, cô thường xuyên nghĩ ngợi lung tung và không ít lần muốn tự tử.
– Các bác sĩ nhận thấy cô có những hành vi cư xử rất kỳ lạ. Chẳng hạn, cô đã nhiều lần đi đến các địa điểm quen thuộc nhưng lại không nhớ là đã từng đến. Molly cũng quên những giai đoạn trong quá khứ của mình …
– Khai thác những ký ức của Molly, các bác sĩ nhận thấy cô có nhiều kỷ niệm xấu như: người thân chết, thất bại trên con đường học tập… Mỗi biến cố dường như tương ứng với sự ra đời của một nhân cách ẩn náu trong con người của Molly.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *