RỐI LOẠN TỰ KỶ Ở TRẺ EM

thuy trang
15/09/24
0

Rối loại tự kỷ ở trẻ em

I. ĐẠI CƯƠNG
– Tự kỷ là một tập hợp các rối loạn phát triển lan tỏa ở mức độ khác nhau từ nhẹ đến nặng, có khởi phát sớm từ khi trẻ trước ba tuổi và diễn biến kéo dài.
– Biểu hiện chung của tự kỷ bao gồm những khiếm khuyết trong ba lĩnh vực là kém tương tác xã hội, kém giao tiếp và hành vi bất thường.
– Bên cạnh đó trẻ thường có rối loạn cảm giác.
– Nhiều trẻ tự kỷ có kèm theo tăng động và chậm phát triển trí tuệ.
– Tỉ lệ chẩn đoán trẻ mắc tự kỷ trong những năm gần đây có xu hướng tăng lên với tần xuất gặp 1/100 trẻ, trong đó tự kỷ điển hình chiếm 16,8%.
– Trẻ trai bị nhiều hơn trẻ gái từ 4 đến 6 lần.

II. NGUYÊN NHÂN VÀ YẾU TỐ NGUY CƠ
– Tự kỷ được cho là bệnh lý của não vì có rối loạn phát triển thần kinh (như có thay đổi cấu trúc tiểu não, thùy trán, thùy thái dương, thiếu hụt hoạt hóa cấu tạo lưới, bất thường về sinh hóa thần kinh) do có những gen bất thường. Tuy nhiên những vấn đề nêu trên vẫn đang là giả thuyết.
– Yếu tố thuận lợi làm cho bệnh tự kỷ nặng lên:
+ Gia đình ít dành thời gian dạy trẻ.
+ Cho trẻ xem tivi quá nhiều.
+ Ít cho trẻ được tiếp xúc và chơi với những trẻ khác.
+ Gia đình ít cho trẻ được tiếp xúc và chơi với những trẻ khác là nguyên nhân phát sinh và phát triển bệnh.

Rối loại tự kỉ ở trẻ em

Rối loại tự kỉ ở trẻ em

III. NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA TRẺ TỰ KỶ
– Thiếu hụt những kỹ năng tương tác xã hội là vấn đề cơ bản của tự kỷ như trẻ không biết chỉ bằng ngón tay trỏ, ít giao tiếp bằng mắt, kéo tay người khác khi cần, ít cử chỉ giao tiếp, không làm theo hướng dẫn, chơi một mình không chia sẻ, chỉ làm theo ý thích của mình, không khoe, không để ý đến thái độ và tình cảm của người khác …
– Một số trẻ không biết quen – lạ, đến nơi mới nào cũng không để ý đến sự đổi thay của môi trường, nhưng lại có những trẻ rất sợ người lạ sợ chỗ lạ.
– Trẻ thường gắn bó và để ý tới đồ vật nhiều hơn là để ý tới mọi người xung quanh.
– Bất thường về ngôn ngữ: Chậm nói, hoặc đã nói được nhưng sau lại không nói, phát âm vô nghĩa, dạy không nói theo. Nếu trẻ nói được thì lại nói nhại lời, nhại quảng cáo, chỉ nói khi đòi ăn, đòi đi …
– Ngôn ngữ thụ động, không biết đặt câu hỏi, hoặc hỏi lại nhiều lần một câu hỏi. Không biết đối đáp hội thoại, không biết kể lại những chuyện gì đã chứng kiến.
– Giọng nói khác thường như nói giọng lơ lớ, thiếu diễn cảm, nói nhanh, nói ríu lời, nói rất to …
– Trẻ không biết chơi các trò chơi đóng vai mang tính xã hội, không biết trò chơi có luật.
– Chậm nói là lý do chủ yếu để các cha mẹ đưa con đi khám bệnh vì đó là dấu hiệu dễ nhận thấy nhất.
– Những bất thường về hành vi, thói quen và ý thích thu hẹp: Hành vi định hình như đi kiễng gót, quay tròn người, ngắm nhìn tay, nhìn nghiêng, lắc lư người, nhảy chân sáo, chạy vòng quanh, nhảy lên …
– Những thói quen rập khuôn thường gặp là: Đi về theo đúng một đường, ngồi đúng một chỗ, nằm đúng một vị trí, thích mặc đúng bộ quần áo đó, luôn làm một việc theo một trình tự nhất định …
– Những ý thích thu hẹp như: Cách chơi đơn điệu kéo dài, bị cuốn hút nhiều giờ xem ti vi quảng cáo, băng hình, điện thoại, quay bánh xe, hay ngắm nhìn hoặc tay luôn cầm một thứ như bút, que, tăm, giấy, chai lọ, đồ chơi có mầu ưa thích hoặc có độ cứng mềm khác nhau …
– Nhiều trẻ ăn vạ khóc lăn ra nếu không vừa ý do trẻ không biết nói và do thiếu kiềm chế.
– Có khoảng trên 70% trẻ tự kỷ có biểu hiện tăng động, không phản ứng với nguy hiểm.
– Nhiều trẻ bị rối loạn cảm giác do thần kính quá nhạy cảm như: Sợ khi nghe tiếng động to nên khóc thét hoặc bịt tai, che mắt hoặc chui vào góc do sợ ánh sáng, sợ một số mùi vị, thính tai với âm thanh quảng cáo nên chạy vào nhanh để nghe, sợ cắt tóc, sợ gội đầu, không thích ai sờ vào người, đi kiễng gót, ăn không nhai và kén ăn …
– Ngược lại trẻ kém nhạy cảm lại có những biểu hiện như: Thích sờ đồ vật, thích được ôm giữ thật chặt, giảm cảm giác đau, quay tròn người, gõ hoặc ném các thứ tạo ra tiếng động, nhìn vật chuyển động hoặc phát sáng …
– Một số trẻ có khả năng đặc biệt như có một số khả năng và trí nhớ rất cao như nhớ số điện thoại, nhớ các loại xe ô tô, nhớ vị trí đồ vật hoặc nơi chốn, bấm trò chơi trên máy rất giỏi, thuộc lòng nhiều bài hát, đọc số chữ rất sớm, làm toán cộng nhẩm nhanh, bắt chước động tác nhanh … nên dễ nhầm tưởng là trẻ quá thông minh.
– Không phải chẩn đoán tự kỷ điển hình là cứ phải có đủ tất cả các dấu hiệu này, mà có thể chẩn đoán là tự kỷ khi trẻ có một số dấu hiệu xếp được đủ vào ba lĩnh vưc trên.
– Cũng không phải là cứ thấy trẻ đi nhón gót hoặc cuốn hút say mê với tivi quảng cáo đã chẩn đoán là tự kỷ mà phải có các dấu hiệu khác cùng tồn tại trong ba lĩnh vực trên.
– Có 5 dấu hiệu chỉ báo nguy cơ của tự kỷ là:
+ Khi 12 tháng trẻ không nói bập bẹ
+ Khi 12 tháng trẻ vẫn chưa biết chỉ ngón tay hoặc không có những cử chỉ điệu bộ giao tiếp phù hợp
+ Khi 16 tháng chưa nói từ đơn
+ Khi 24 tháng chưa nói được câu 2 từ hoặc nói chưa rõ
– Trẻ bị mất đi kỹ năng ngôn ngữ hoặc kỹ năng xã hội đã có ở bất kỳ lứa tuổi nào.
– Diễn biến khi trẻ lớn lên thường đi học muộn, ít hòa nhập với bạn bè, khó khăn ngôn ngữ giao tiếp, không hiểu nghĩa bóng của từ ngữ, khó khăn về học tập nhất là những môn xã hội.
– Hành vi định hình hoặc ý thích thu hẹp có thể thay đổi từ thứ này sang thứ khác.
– Nhiều trẻ hung tính, tăng động và có một số lại thu mình.
– Hiện nay ở Việt nam đã có một số trẻ tự kỷ mức độ nhẹ – trung bình sau khi học ở các trung tâm đã ra học hòa nhập được ở các trường phổ thông.
– Những trẻ tự kỷ chức năng cao hoặc hội chứng Asperger vẫn đi học hòa nhập bình thường được.
– Những trẻ có ngôn ngữ giao tiếp và có trí tuệ sau này lớn lên có thể sống tự lập, có việc làm phù hợp với năng lực, tuy nhiên vẫn thường sống khép kín.
– Nhiều người tự kỷ nặng sống phụ thuộc vào gia đình.
– Có khoảng 50% trẻ tự kỷ thể điển hình có thể không nói được hoặc chỉ nói được rất ít ở tuổi trưởng thành.
– Tiên lượng tốt nếu trẻ có trí tuệ cao, ngôn ngữ có chức năng, ít có những triệu chứng hành vi kỳ lạ và được can thiệp sớm.
– Khi lớn lên một số dấu hiệu tự kỷ có thể thay đổi, một số người có hành vi tự gây thương tích, ám ảnh, lo âu sợ hãi.
– Hiện nay vẫn chưa có xét nghiệm sinh học đặc hiệu để chẩn đoán tự kỷ.
– Đi khám bác sĩ chuyên khoa trẻ được làm một số trắc nghiệm tâm lý để đánh giá phát triển tâm vận động cho trẻ dưới 6 tuổi và trí tuệ cho trẻ lớn hơn, trắc nghiệm về hành vi cảm xúc, thang sàng lọc tự kỷ M- CHAT, thang đo mức độ tự kỷ CARS.

Rối loại tự kỉ ở trẻ em

Rối loại tự kỉ ở trẻ em

IV. PHÂN LOẠI CÁC THỂ TỰ KỶ
4.1. Theo phân loại lâm sàng:
– Tự kỷ điển hình (tự kỷ Kanner): Bao gồm các dấu hiệu bất thường ở cả ba lĩnh vực, khởi phát trước ba tuổi.
– Hội chứng Asperger (tự kỷ chức năng cao): Kém tương tác xã hội, nói được nhưng giao tiếp bất thường, không chậm nhận thức, xuất hiện sau ba tuổi.
– Hội chứng Rett: Trẻ gái bị mắc, sự thoái triển xảy ra khi trẻ 6 – 18 tháng, động tác định hình ở tay, vẹo cột sống, đầu nhỏ, chậm phát triển trí tuệ mức độ nặng.
– Rối loạn phân rã tuổi ấu thơ: Sự thoái lùi phát triển nặng xảy ra trước 10 tuổi.
– Tự kỷ không điển hình: Chỉ có bất thường một trong ba lĩnh vực, là tự kỷ mức độ nhẹ.
4.2. Theo khả năng trí tuệ và phát triển ngôn ngữ lại chia ra:
– Tự kỷ có trí thông minh cao và nói được
– Tự kỷ có trí thông minh cao nhưng không nói được
– Tự kỷ có trí tuệ thấp và nói được
– Tự kỷ có trí tuệ thấp và không nói được

V. CHẨN ĐOÁN
5.1. Chẩn đoán xác định:
– Dựa vào sự quan sát và phát hiện thông qua các bảng trắc nghiệm về trẻ tự kỷ (sẽ đề cập đến trong các bài riêng).
– Khai thác kỹ các mối quan hệ tại nhà, các thói quen sinh hoạt, tâm lý người chăm sóc … là những yếu tố cần thiết để hướng tới chẩn đoán.
– Không có bất kỳ một xét nghiệm cận lâm sàng nào để chẩn đoán tự kỷ, tuy nhiên đôi khi bác sỹ sẽ cho trẻ đi kiểm tra thêm các chuyên khoa khác như tai – mũi – họng, thần kinh … để phục vụ cho chẩn đoán phân biệt.
5.2. Chẩn đoán phân biệt:
– Cần phân biệt tự kỷ với những vấn đề khác như chậm nói đơn thuần, câm điếc, chậm phát triển trí tuệ, rối loạn sự gắn bó, rối loạn tăng động giảm chú ý …

VI. ĐIỀU TRỊ TỰ KỶ
– Để giúp cho đứa con tự kỷ bình phục thì cha mẹ không chỉ cần nuôi cho ăn, lo cho mặc, mà cha mẹ bắt buộc phải là giáo viên, là nhà trị liệu, bởi lẽ cha mẹ là người hiểu con nhất có nhiều thời gian bên con nhất.
6.1. Vai trò của cha mẹ trong điều trị tự kỷ
– Chương trình can thiệp sớm cho trẻ trước năm tuổi bao gồm dạy trẻ và tư vấn cho gia đình.
– Đối với trẻ cần tác động qua những phương pháp như: Điều hòa đa giác quan, dạy các kỹ năng vận động tinh và vận động thô, ngôn ngữ trị liệu, quản lý hành vi, chơi trị liệu, dạy kỹ năng tự lập, kỹ năng xã hội.
– Việc quản lý hành vi của trẻ là vấn đề khó khăn vì trẻ tăng động, không thích học, chỉ luôn làm theo ý thích của mình. Do vậy cha mẹ nên lưu ý phải hiểu ý muốn của trẻ mà gợi ý cho trẻ tự bộc lộ ra bằng lời hoặc bằng cử chỉ.
– Hiểu lý do trẻ ăn vạ để tránh lặp lại tình huống gây ăn vạ, lờ đi khi trẻ ăn vạ, nói không với hành vi sai hoặc phạt bằng cách cho ngồi một chỗ, chuyển những hoạt động tự do quá khích của trẻ sang những hoạt động có mục đích như cất dọn đồ chơi, làm các việc vặt, đá bóng, đạp xe …
– Cho trẻ làm những việc dễ thực hiện rồi tăng dần độ khó, luôn khen ngợi trẻ mỗi khi có cố gắng, biết trẻ thích thứ gì để lấy đó làm phần thưởng nhằm khuyến khích trẻ thực hiện một nhiệm vụ.
– Với trẻ lớn dạy trẻ cần có chương trình dạy trẻ phát triển toàn diện được tiến hành ở nhà cũng như ở trường: Dạy trẻ về nhận thức, hoạt động thích ứng, tăng cường sự chú ý, hoạt động cảm giác, vận động, ngôn ngữ, trí nhớ, tổ chức, học tập, kỹ năng xã hội, kỹ năng không gian thị giác và hoạt động chung nhằm giúp trẻ thích nghi cuộc sống và hòa nhập cộng đồng.
– Hiện nay vẫn chưa có thuốc đặc hiệu điều trị tự kỷ mà chỉ dùng thuốc điều trị triệu chứng kèm theo khi có tăng động, cơn hờn giận, hung tính …
– Có những mô hình khác nhau mà cha mẹ có thể tham khảo để cho trẻ được can thiệp sớm.
– Nếu trẻ được đánh giá là tự kỷ nặng thì nên cho trẻ theo học ở trung tâm giáo dục đặc biệt hoặc các khoa phục hồi chức năng trong một thời gian, sau đó có thể kết hợp đi học mẫu giáo với can thiệp ở trung tâm theo giờ.
– Nếu trẻ tự kỷ nhẹ có thể đi học mẫu giáo và can thiệp cá nhân theo giờ. Một số cha mẹ có điều kiện mời giáo viên đến nhà dạy con để có thể học hỏi thêm kinh nghiệm.
– Cha mẹ đóng vai trò quyết định tới sự tiến bộ của trẻ vì cha mẹ là người hiểu trẻ nhất, có thời gian bên trẻ nhiều nhất nên dạy trẻ được nhiều
– Dù trẻ có đi học ở đâu thì cha mẹ phải tích cực tham gia dạy trẻ. Cha mẹ đóng vai trò quyết định tới sự tiến bộ của trẻ vì cha mẹ là người hiểu trẻ nhất, có thời gian bên trẻ nhiều nhất nên dạy trẻ được nhiều.
– Do vậy cha mẹ phải được tư vấn cách dạy trẻ, sau đó tiếp tục phải tự học hỏi tìm tòi, đọc tài liệu, chia sẻ kinh nghiệm với giáo viên và với những phụ huynh khác để tìm cách dạy con phù hợp.
– Một số cha mẹ còn cho là dạy trẻ tự kỷ thì chỉ đơn thuần là dạy trẻ biết nói, nhưng quan niệm như vậy là chưa đúng, mà phải dạy trẻ cả về hành vi và tương tác xã hội.
– Cha mẹ trẻ phải dạy trẻ mọi nơi mọi lúc, dạy ít nhất là trên 3 giờ mỗi ngày.
– Hạn chế cho trẻ xem tivi, không cho chơi điện tử. phải thường xuyên nói chuyện với trẻ, gọi tên nhìn vào mắt trẻ.
– Dạy trẻ các cử chỉ giao tiếp.
– Dạy trẻ hiểu lời, dạy phát âm, dạy nói.
– Cho trẻ chơi cùng với trẻ khác.
– Sử dụng đồ chơi bằng nhiều cách khác nhau, chơi từng thứ một, chơi lần lượt và luân phiên (ví dụ cùng chơi đẩy quả bóng, đẩy ô tô, chơi xếp hình).
– Luôn khuyến khích khen ngợi trẻ.
– Dạy trẻ những kỹ năng tự lập như tự xúc ăn, mặc quần áo, rửa tay, đi vệ sinh …
– Áp dụng các phương pháp điều hòa đa giác quan để tập luyện cho trẻ. Nếu thấy trẻ đáp ứng phù hợp thích nghi với thực tại chứng tỏ việc dạy trẻ có kết quả tốt.
6.2. Những lời khuyên cho cha mẹ có con bị tự kỷ
– Nhanh chóng vượt qua được “shock” sau khi biết con bị tự kỷ, lấy lại tinh thần, chấp nhận thực tế.
– Điều chỉnh cuộc sống, sắp xếp việc nhà, phối hợp với các nhà chuyên môn, học hỏi kinh nghiệm và kiến thức để dạy trẻ.
– Mua và tự làm đồ chơi, dụng cụ can thiệp
– Kiên trì, can thiệp dạy trẻ mọi nơi, mọi lúc nếu có thể, tránh chán nản, nôn nóng.
– Luôn tỏ rõ tình cảm yêu thương trẻ tạo cho trẻ cảm giác an toàn, nhưng không làm thay trẻ và luôn khuyến khích trẻ tự lập theo khả năng có thể.
– Bố trí môi trường sống có cấu trúc rõ ràng, ổn định, an toàn.
– Thường xuyên cho trẻ đi khám, đánh giá theo định kỳ, phối hợp với các nhà chuyên môn để thiết lập chương trình phù hợp dạy trẻ.
– Không mặc cảm che dấu mà tích cực cho trẻ hoà nhập cộng đồng, thông báo cho người có liên quan về tình trạng của trẻ.
– Sinh hoạt nhóm cha mẹ tự kỷ để chia sẻ

VII. PHÒNG BỆNH
– Để phòng rối loạn tự kỷ, cha mẹ cần lưu ý đảm bảo thai sản an toàn cho người mẹ, hạn chế sinh con khi cao tuổi, tránh các yếu tố bất lợi của môi trường sống. Quan tâm tác động sớm tới trẻ trong chơi tương tác, vận động và phát triển giao tiếp.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *